chương I: Trong nền kinh tế thị trường, NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng, thông qua các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM nguồn vốn nhàn rổi của xã hội được huy động, tạo lập ra nguồn vốn tín dụng để cho vay và phát triển kinh tế. Việc sử dụng nguồn vốn này rất quan trọng, nếu các NHTM mở rộng tín dụng phát triển đúng hướng không những góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển mà còn đem lại lợi nhuận cho chính bản thân ngân hàng. Thông qua hoạt động phân tích tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Cần Thơ sẽ cho chúng ta một nhận xét toàn diện và sâu sắc hơn về thực trạng tín dụng để từ đó tìm ra các giãi pháp cụ thể để mở rộng hơn nữa hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy kinh tế tỉnh Cần Thơ tiếp tục tăng trưởng. CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CẦN THƠ 2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA TỈNH CẦN THƠ TRONG GIAI ĐOẠN 2000-2002.1 Thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cần Thơ.
Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích tự nhiên 296.812 ha, dân số năm 2002 là 1.276 người, chiếm 7,6% diện tích và 11,23% dân số trong vùng. Cần Thơ với ưu thế về hệ thống sông, kênh rạch, mạng lưới giao thông thủy bộ phát triển khá đều khắp, lại không xa các cửa biển sẽ có tác động thúc đẩy sự giao lưu hàng hóa của Cần Thơ với các tỉnh trong vùng và cả nước. Cần Thơ nằm giữa một vùng nguyên liệu nông - thủy hải sản lớn của đất nước, với điều kiện tự nhiên sinh thái thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện, cơ cấu cây trồng vật nuôi phong phú, đa dạng và có điều kiện sinh trưởng nhanh, tạo nguồn nông sản dồi dào cho phát triển công nghiệp chế biến nông hải sản. Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa và khoa học kỷ thuật của toàn vùng, có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẽ, lao động có trình độ kỷ thuật cao, trong tương lai Cần Thơ sẽ là thành phố loại 1 trực thuộc Trung Ương, tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa sẽ phát triển rất nhanh, Cần Thơ sẽ là đầu tàu kinh tế cho toàn vùng ĐBSCL phát triển.
Tuy nhiên Cần Thơ không có thế mạnh về tài nguyên khoáng sản , cơ sở hạ tầng tuy được quan tâm đầu tư cải thiện nhưng vẫn còn đang ở tình trạng yếu kém, thiếu đồng bộ , chưa đủ sức đáp ứng cho một nền sản xuất hàng hóa phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường và vẫn còn kém sức hấp dẫn với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nền kinh tế của tỉnh tuy có bước phát triển về nhiều mặt nhưng nhìn chung Cần Thơ có điểm xuất phát thấp, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế chưa nhiều, vốn đầu tư nội tại chỉ đáp ứng 40% nhu cầu phát triển, cơ cấu kinh tế nặng về nông nghiệp giá cả nông sản không ổn định, công nghiệp chưa phát triển mạnh, công nghệ còn lạc hậu, thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển chưa tương xứng với vị trí, tiềm năng và thế mạnh của một tỉnh là trung tâm của khu vực .2 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Cần Thơ giai đoạn 2000-2002. Từ những thuận lợi và khó khăn trên, kết hợp với những biến động của tình hình trong nước và quốc tế nhất là khi Việt Nam gia nhập AFTA, ký kết hiệp định thương mại Việt Mỹ và sẽ tham gia WTO, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Cần Thơ trong giai đoạn 2000-2002 phát triển theo chiều hướng : - Nhịp độ tăng trưởng bình quân 9,5% /năm so với mục tiêu là tăng 9-10%năm là đạt yêu cầu, trong đó Nông lâm ngư nghiệp tăng 3,18% , Công nghiệp - Xây dựng tăng 16,14%, dịch vụ tăng 9,78%. Giá trị gia tăng năm 2000 gấp 1,47 lần năm 1995, thu nhập bình quân đầu người đạt 354 USD năm 2000 và 452 USD năm 2002, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 13,2%/năm.
- Tỷ lệ tích lũy nội bộ nền kinh tế 21,5% vào năm 2000 và 22,9% năm 2002. - Tỷ lệ huy động ngân sách trên giá trị gia tăng là 15,6%. - Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội trên giá trị gia tăng là 29,5%. Trong đó 22,5% do nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, còn lại là các nguồn đầu tư khác .3 Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Cần Thơ Để đạt được những thành tích trên, ngoài sự nổ lực của toàn thể các ban ngành còn có sự đóng góp rất lớn của hệ thống các NHTM.
Tính đến cuối năm 2002, trên địa bàn tỉnh Cần Thơ có 17 NHTM gồm: 06 NHTM quốc doanh , 1Ngân hàng liên doanh, 5 NHTM cổ phần đô thị và 5NHTM cổ phần nông thôn. Các NHTM này ngày càng nâng cao chất lượng nghiệp vụ, đa dạng các hình thức tín dụng, thực hiện đều khắp công tác huy động vốn và cho vay, góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa của tỉnh phát triển .1 Về hoạt động huy động vốn. Do địa bàn có rất ít những tổ chức có nguồn tiền gởi lớn và ổn định như Bưu điện, Điện lực, Dầu khí, các tổng công ty 90-91so với các tỉnh thành thuận lợi như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng. nên công tác huy động nguồn tiền gởi thanh toán còn nhiều hạn chế.
Về nguồn tiền gởi tiết kiệm, mặc dù tỉnh Cần Thơ có nhiều trung tâm dân cư đông đúc như thành phố Cần thơ, thị trấn Ô môn, Thốt nốt, Phụng hiệp. nhưng nguồn tiền gởi này hiện nay chưa khai thác được nhiều, một mặt do đời sống của người dân trong tỉnh chưa cao, tích lũy còn thấp. Mặt khác do phương thức huy động tiền gởi tiết kiệm của các NHTM chưa thực sự đa dạng và phong phú chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người gởi tiền như phục vụ ngoài giờ hành chánh, gởi tiền tiết kiệm một nơi rút tiền nhiều nơi, nhận tiền và giao tiền tại nhà, tiết kiệm tích lũy. kết qủa huy động vốn của các THTM được tổng hợp như sau : Bảng 1:BẢNG TỔNG HỢP CHỈ TIÊU VỀ NGUỒN VỐN CỦA CÁC NHTM Đvt : tỷ đồng.
Chỉ tiêu Năm Năm Năm Tăng giãm 2000 01/00 02/01 2001 2001 1/Tổng nguồn vốn 4.133 21,3% 2/Nguồn vốn huy động 3.007 33,2% 358 8,8% - Vốn huy động trên địa bàn 1.324 401 25,6% 352 17,9% - Vốn điều chuyển trong hệ 1.986 648 48,3% -3 -0,2% thống - Vốn vay TCTD khác 123 82 91 -38 -31% 9 10,9% ( Nguồn số liệu : Ngân hàng nhà nước tỉnh Cần Thơ ) Từ số liệu thống kê trên cho thấy qua các năm nguồn vốn huy động dưới các hình thức đều tăng, nhưng bản thân nguồn vốn huy động trên địa bàn của các NHTM chỉ mới đáp ứng khỏang 35,95% tổng nguồn vốn huy động và chiếm 40% so với tổng dư nợ (năm 2000 là 38,52%, năm 2001 là 42,6%, năm 2002 đạt 39,16%). Với góc độ phân tích về nguồn vốn cho hoạt động tín dụng rỏ ràng các NHTM chưa thực sự chủ động, phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn điều chuyển trong hệ thống, việc tăng nguồn vốn này chỉ là giải pháp tình thế khi nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa đều còn một số tỉnh chỉ huy động được nguồn nhưng chưa có đầu ra nên hoạt động này còn khả năng duy trì. Vì vậy để mở rộng tín dụng về lâu dài các NHTM phải xây dựng kế họach phát triển nguồn vốn huy động tại chổ là chủ yếu coi đây là điều kiện cần để mở rộng tín dụng ngân hàng .2 Hoạt động cấp tín dụng ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu vốn phát triển kinh tế của các doanh nghiệp, hiện nay trên địa bàn tỉnh Cần Thơ các NHTM chú trọng vào hình thức cấp tín dụng như sau: Chỉ tiêu Năm Năm Năm Tăng giãm 2000 01/00 02/01 2001 2002 Cho vay 4.306 28,2% Ckhấu 39 115 146 76 195% 31 26,9% Bảo lãnh 0 11 65 11 100% 54 491% Cho thuê tài chính 0 0 18 0 0 18 0 ( Nguồn số liệu : Ngân hàng nhà nước tỉnh Cần Thơ ) - Cho vay là hình thức cấp tín dụng hoạt động sôi nổi nhất với nhiều loại hình phong phú và đa dạng nên trong những năm qua hoạt động cho vay luôn là hình thức cấp tín dụng phổ biến nhất của các NHTM chiếm tỷ lệ 96% tổng doanh số hoạt động cấp tín dụng toàn tỉnh và tỷ lệ tăng trưởng của hoạt động cho vay vẫn không ngừng được tăng lên, cụ thể năm 2001 tốc độ này là 13,5% và năm 2002 là 28,2% cung cấp đủ nhu cầu vốn cho nhiều doanh nghiệp trong tỉnh tăng trưởng và phát triển.
- Chiết khấu thương phiếu là một trong những nghiệp vụ cho vay cổ điển của các NHTM và ngày nay việc cho vay theo kỷ thuật này vẫn còn áp dụng rất phổ biến trên thế giới nhưng riêng đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Cần Thơ, chiết khấu thương phiếu chưa được áp dụng rộng rãi vì : + Trong thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước không cho phép hành vi mua bán chịu hàng hóa và tất nhiên là không có các công cụ tín dụng thương mại để chiết khấu. + Khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại và thương phiếu chậm được triển khai và không phổ biến và chưa được và các doanh nghiệp hưởng ứng rộng rãi. Chính vì 2 lý do trên mà kỷ thuật chiết khấu chưa được phồ biến, trên thực tế chỉ có vài NHTM thực hiện nghiệp vụ chiết khấu các hối phiếu quốc tế và chỉ các công ty có hoạt động kinh doanh XNK mới chiết khấu tại ngân hàng. Nhìn chung hình thức chiết khấu tín dụng có tốc độ tăng trưởng là 26,9% trong năm 2002 nhưng tỷ trọng của nó chỉ chiếm 2,37% trong tổng số các hình thức tín dụng ngân hàng là rất thấp.
- Hình thức cấp tín dụng qua hoạt động bảo lãnh : Tại Cần Thơ, vào những năm của thập kỷ 90, khi nền kinh tế đã hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, các hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú, trong đó nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh được phát triển như một tất yếu khách quan .