Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC THÓI QUEN TIẾT KIỆM ĐIỆN, NƯỚC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi nghiên cứu về thói quen cho trẻ mầm non, có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, trong giới hạn đề tài này chúng tôi đưa ra một số hướng nghiên cứu như sau: 1. Hướng thứ 1: Nghiên cứu về quá trình và cơ chế hình thành thói quen Khi nhắc đến hình thành thói quen không thể nào không nhắc đến I. Công trình nghiên cứu về phản xạ có điều kiện ông đã phát hiện ra rằng bất kỳ một tín hiệu nào như tiếng chuông, tiếng huýt sáo… gắn liền với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết quả tương tự.
Ông lặp lại thí nghiệm này trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phòng thí nghiệm. Còn với những chú chó mới được nuôi thì không được, bởi vì chó mới nuôi chưa có thói quen để tạo ra phản ứng.Pavlov cho rằng đây là loại phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngoài. Ông gọi đó là “phản xạ có điều kiện” Kết quả công trình nghiên cứu của ông có ý nghĩa rất lớn cho các nhà giáo dục ứng dụng vào để giáo dục hình thành hành vi, thói quen cho người học.
Năm 2012, nhà báo Charles Duhigg đã cho xuất bản quyển sách The power of habit. Tạm dịch là: Sức mạnh của thói quen. Qua nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra kết luận bất kỳ thói quen nào muốn được hình thành đều trải qua một quá trình, quá trình này được tác giả gọi là “Vòng lặp thói quen” gồm 3 bước: Gợi ý, hành động và cuối cùng là phần thưởng. Qua thời gian, vòng lặp đó trở nên tự động hóa và thói quen cũng được tạo ra.
Tác giả cho rằng thói quen có một vai trò to lớn đối với cuộc sống con người. Năm 2013, tác giả Stephen Guise đã cho ra đời quyển sách Mini habits: Smaller habit, Bigger result. Quyển sách của ông cho rằng những thói quen nhỏ là những hành vi tích cực rất nhỏ mà nó ép buộc con người phải thực hiện mỗi ngày. Những thói quen này nhỏ đến mức tưởng chừng 7 như nó không trọng lượng, không cần có ý định trước khi thực hiện.
Tuy nhỏ như vậy nhưng nó mang đến cơ hội thay đổi cuộc sống cho đến 99% con người trên trái đất. Nghiên cứu của tác giả Benjamin Gardner thì cho rằng thói quen chính là sự tự động chứ không phải là sự thường xuyên. Có nghĩa là thói quen đã đạt mức độ cao, việc thực hiện thường xuyên chỉ là công cụ để biến hành vi thành tự động.2 Hướng thứ 2: Nghiên cứu về việc giáo dục môi trường nói chung và việc sử dụng năng lượng có hiệu quả Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi, Trung tâm Nghiên cứu giáo dục mầm non, năm 2002 đã đưa ra nội dung các hoạt động thực tiễn của trẻ góp phần bảo vệ môi trường: tiết kiệm trong sinh hoạt (tiết kiệm điện, nước, đồ dùng đồ chơi). Chương trình giáo dục mầm non thí điểm 2005-2006 giáo dục trẻ quan tâm đến môi trường, tiết kiệm điện, nước.
Trong Luận văn thạc sĩ Trần Thị Thanh Duyên năm 2013 đã nghiên cứu về đề tài: “Một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” trong đó có nội dung giáo dục ý thức tiết kiệm nước cho trẻ Chương trình giáo dục mầm non mới được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 25 tháng 7 năm 2009 đã đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường thành một nội dung quan trọng, để phục vụ cho điều đó, nhóm tác giả Hoàng Thị Thu Hương – Trần Thị Thu Hòa – Trần Thị Thanh đã biên soạn quyển sách Hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non dành cho giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh và những người quan tâm đến môi trường. Bên cạnh một số phương pháp, hình thức để tổ chức giáo dục trẻ sử dụng tiết kiệm điện, nước, thức ăn, đồ dùng đồ chơi theo quan điểm tích hợp chủ đề thì quyển sách còn chia sẻ một số kinh nghiệm giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục trẻ tiết kiệm ở một số nước tiên tiến như Hàn Quốc, Nga, Australia. Trong đó vấn đề giáo dục trẻ tiết kiệm cũng được quan tâm. 8 Tác giả Hoàng Thị Thu Hương và Trần Thị Thu Hòa đã viết quyển sách: Hình thành hành vi thân thiện với môi trường.
Quyển sách đề cập đến các nội dung, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường và tổ chức các hoạt động thu hút sự tham gia của trẻ. Trong đó việc sử dụng điện nước tiết kiệm là một trong những kỹ năng bảo vệ môi trường. Năm 2013, đứng trước nguy cơ nguồn nước sạch ngày càng cạn kiệt, tác giả Kim Phụng đã biên soạn quyển sách “Tiết kiệm nước” nằm trong loạt sách những cách tốt nhất để bảo vệ môi trường. Quyển sách đề cập đến chính sách tiết kiệm nước của một số nước trên thế giới, tác dụng của nguồn nước đối với con người và các cách tiết kiệm nước trong gia đình.
Tuy nhiên, những cách này chỉ phù hợp và đối tượng chủ yếu là dành cho người lớn. Đứng trước các vấn đề khó khăn của giáo viên mầm non trong việc giáo dục trẻ bảo vệ môi trường. Tác giả Trần Lan Hương đã biên soạn quyển: Sổ tay giáo viên mầm non Hỏi đáp về giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non nhằm cung cấp cho giáo viên mầm non phương pháp tổ chức hoạt động, mô tả một số thực nghiệm cho giáo viên tham khảo. Tác giả cho rằng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ cần phải giáo dục ý thức tiết kiệm lâu bền, trách nhiệm, trong quá trình sử dụng phải biết cách tiêt giảm, tái sử dụng, tái chế.
Hướng thứ 3: Nghiên cứu về việc giáo dục thói quen tiết kiệm cho trẻ trong nhà trường Có một vài nghiên cứu của tác giả Philippa Lally về thói quen đã được đăng trên tạp chí European journal of social psychology. Tác giả Philippa Lally cùng nhóm cộng sự của mình tại trường đại học Luân Đôn vào năm 2010 tiến hành nghiên cứu trên 96 tình nguyện viên. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng để biến một hành động nào đó thành một thói quen cần mất trung bình khoảng 66 ngày thực hiện hành động đó liên tục, và tùy thuộc vào tính chất, độ phức tạp của thói quen thì thời gian hình thành có thể dao động từ 18 đến 254 ngày hoặc hơn. Bà nhấn mạnh vai trò của tình huống hay là ngữ cảnh 9 thực hiện hành động.
Tình huống hay ngữ cảnh có vai trò như gợi ý nhắc nhở thực hiện hành động để dần biến hành động đó thành thói quen. Trong quyển sách Giáo trình giáo dục tích hợp ở bậc học mầm non của tác giả Nguyễn Thị Hòa có đề cập đến việc giáo dục trẻ phải biết tiết kiệm trong sinh hoạt. Cụ thể là tắt điện, tắt quạt khi ra khỏi phòng, khóa vòi nước sau khi dùng và không để thừa thức ăn. Như vậy là tác giả xác định có ba đối tượng gần gũi mà trẻ có thể thực hành tiết kiệm là điện, nước và thực phẩm.
Nhìn chung, các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thì chủ yếu nghiên cứu về quá trình, cơ chế hình thành thói quen trên góc độ tâm lý, lý giải các hiện tượng, trên cơ sở đó giải thích các vấn đề về tâm lý và y học. Các nghiên cứu được thực hiện chủ yếu trên người trưởng thành và chưa thấy một kết luận rõ ràng nào về cơ chế, cách thức hình thành thói quen cho trẻ. Các nghiên cứu của các tác giả trong nước đều có đề cập đến vấn đề giáo dục tiết kiệm cho trẻ, tuy nhiên, việc giáo dục, luyện tập sao cho tiết kiệm trở thành thói quen cho trẻ thì chưa thấy rõ mà chỉ dừng lại ở việc giáo dục xen kẽ, rời rạc, thiếu liên tục. Chính vì vậy mà tiết kiệm chưa thể chuyển thành thói quen của trẻ.
Qua đó ta thấy việc nghiên cứu quá trình và cách thức áp dụng biện pháp giáo dục thói quen tiết kiệm cho trẻ là hết sức cần thiết. Lý luận về giáo dục thói quen tiết kiệm cho trẻ 5 – 6 tuổi 1. Khái niêm tiết kiệm Theo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 29/11/2005: Tiết kiệm là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định. Định nghĩa ở đây nêu một cách khái quát về việc thực hành tiết kiệm trên phương diện là hoạt động sản xuất.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh thì cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính quan trọng mà một người cần có. Kiệm có nghĩa là tiết kiệm vật tư, tiền bạc, thời gian, không xa xỉ, không hoang phí. Và tiết kiệm ở không không phải là bủn xỉn. Tiết kiệm là giảm bớt việc sử dụng, tuy nhiên, Người nhấn mạnh rất cần thiết phải phân biệt được tiết kiệm và bủn xỉn, hay còn gọi là sự keo kiệt.
10 Theo từ điển Tiếng Việt thì “Tiết kiệm là giảm bớt hao phí sức lực, của cải, thời gian,…trong sản xuất hoặc sinh hoạt”. Theo đại từ điển của Nguyễn Như Ý có nêu “Tiết kiệm là giảm bớt hao phí không cần thiết, tránh lãng phí trong sản xuất, sinh hoạt”. Tiếp thu những quan điểm khác nhau về tiết kiệm, theo chúng tôi thì tiết kiệm là “Giảm bớt hao phí không cần thiết, tránh lãng phí trong mọi mặt của đời sống xã hội”. Khái niệm tiết kiệm điện, tiết kiệm nước Tiếtkiệm, hiểu theo nghĩa thông thường là hành vi giảm thiểu các lãng phí.
Tiết kiệm là khái niệm kinh tế, có liên quan mật thiết tới việc đầu tư. Tiết kiệm cho phép tích lũy (dự trữ). Tiết kiệm trong kinh tế học là phần thu nhập có thể sử dụng không được chi vào tiêu dùng. Trong thuật ngữ tài chính cá nhân tiết kiệm đề cập đến việc dự trữ tiền cho tương lai - loại tiền được gửi trong ngân hàng.
Tiết kiệm khác với sự đầu tư, nơi mà có những rủi ro. Tiết kiệm điện, nước có nghĩa là giảm lượng điện, nước sử dụng trong khi đạt được một kết quả tương tự sử dụng cuối cùng. Sử dụng điện, nước ít hơn có rất nhiều lợi ích - bạn có thể tiết kiệm tiền và giúp cho môi trường. Tạo ra năng lượng đòi hỏi nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, ví dụ như than, dầu hoặc khí.