PHẦN MỞ ĐẦU Tên đề tài : Một số biện pháp can thiệp sớm trẻ khiếm thị 1. Thời gian thực hiện : 4/2005-4/2007 2. Tính cấp thiết của đề tài Tuyên bố Salamanca và cương lĩnh hành động về giáo dục theo nhu cầu đặc biệt tại Hội nghị thế giới về giáo dục trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt tại Tây Ban Nha năm 1994 có đoạn “Thành công của nhà trường hoà nhập phụ thuộc rất nhiều vào việc phát hiện sớm, đánh giá và khuyến khích trẻ có nhu cầu giáo dục từ khi còn rất nhỏ. Công tác chăm sóc và giáo dục trước tuổi học cho trẻ dưới 6 tuổi cần được phát triển hướng vào việc kích thích sự phát triển thể chất, trí tuệ và xã hội cũng như chuẩn bị cho trẻ khả năng sắn sàng tới trường.
Thực hiện các văn bản pháp luật của Nhà nước và Quốc tế mà Việt Nam đã cam kết và Chiến lược Phát triển giáo dục 2001-2010 với mục tiêu bình đẳng cơ hội giáo dục, phấn đấu tới 2010 để 70% TKT được đi học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chọn GDHN là định hướng chính trong GD TKT. Để chất lượng dạy học hoà nhập được bảo đảm thì cần phải có một số yếu tố cơ bản sau : - Độ tuổi của TKT không chênh lệch lớn so với độ tuổi của các bạn trong lớp; - Trẻ có KT có thể học cùng chương trình (Có sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm nhận thức, thể chất của trẻ có dạng KT khác nhau) với các bạn trong lớp; - Tất cả trẻ em trong trường, lớp cần được sinh hoạt, học tập, vui chơi. cùng nhau không phân biệt có KT hay không có KT; - Để phục hồi chức năng, phát triển kĩ năng đặc thù do hậu quả của khiếm khuyết và tham gia mọi hoạt động cùng các bạn, trẻ có KT cần được đáp ứng những nhu cầu riêng (Phương tiện, đồ dùng dạy học đặc thù, hỗ trợ vé tinh than, tình cảm.); - Môi trường xung quanh ( Vật chất và XH), nhất là trong trường lớp phải bảo đảm cho sự tham gia hoạt động của TKT. Hiện tại GDMN đang thực hiện huy động tất cả trẻ 5 tuổi ra lớp.
Theo chương trình GD tiểu học năm 2000, trẻ em sẽ gặp không ít khó khăn nếu chưa được làm quen với chữ cái, số đếm và có một số kĩ năng giao tiếp XH cơ bản. Trẻ khiếm thị không được đến lớp trước khi tới trường tiểu học, hiển nhiên sẽ càng khó khăn hơn vì ngoài những nội dung nêu trên trẻ còn bị ảnh hưởng tiêu cực của khiếm khuyết về thị giác, giác quan chủ yếu giúp con người nhận thức thế giới xung quanh. Theo số liệu điều tra của các cơ sở GD trẻ khiếm thị trong cả nước thì hiện nay trẻ khiếm thị thường đi học muộn hơn trẻ sáng mắt 1-2 năm, thậm chí tới gần 10 năm. Nguyên nhân là do trẻ không được CTS để chuẩn bị tâm thế đến lớp đúng độ tuổi.
Sự chênh lệch tuổi không thể không ảnh hưởng tới chất lượng GD của trẻ khiếm thị nói riêng và trẻ sáng mắt học cùng lớp nói chung. Mặt khác, sự khác biệt 7 lớn về phát triển tâm sinh lí độ tuổi cũng chính là nguyên nhân cản trở sự hoà nhập giữa trẻ khiếm thị và trẻ sáng mắt. Mặt khác, GÐ và GV trực tiếp dạy học trẻ khiếm thị cùng chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng CSGD trẻ khiếm thị. Trẻ sáng mắt cũng chưa được hướng dẫn cách chơi cùng bạn khiếm thị.
Những hạn chế nêu trên gây cản trở việc đưa trẻ đến trường đúng độ tuổi. Tầm quan trọng của công tác CTS trẻ khiếm thị đã được các chuyên gia trên thế giới và trong nước khẳng định. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta mới chỉ có những chương trình, dự án nhỏ về CTS cho TKT nói chung và trẻ khiếm thị nói riêng. Những chương trình thí điểm này mới sử dụng các kinh nghiệm do chuyên gia nước ngoài truyền đạt chưa thực sự phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Mặt khác, với cách truyền đạt “Cầm tay chỉ việc” trong thời gian ngắn và nguồn kinh phí tài trợ cao thì những kết quả thu được cũng rất khó có thể áp dụng đại trà. Nói cách khác, những thử nghiệm này đã giúp cho Việt Nam nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác CTS và những kinh nghiệm ban đầu nhưng chưa bảo đảm kể cả về mặt lí luận cũng như thực tiễn để trở các địa phương không có dự án áp dụng triển khai. Đảm bảo để trẻ khiếm thị đi học đúng độ tuổi, nâng cao chất lượng GDHN thì công tác phục hồi chức năng, phát triển các kĩ năng đặc thù, đặc biệt là kĩ năng GXH cho Trẻ khiếm thị đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua việc thực hiện công tác CTS trẻ khiếm thị.
Vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp CTS Trẻ khiếm thị” làm chủ để của công trình nghiên cứu này. Mục tiêu nghiên cứu : Nghiên cứu một số biện pháp CTS phù hợp và hiệu quả nhằm giúp trẻ khiếm thị tuổi MN phục hồi chức năng, phát triển và đi học lớp I đúng độ tuổi. Phạm vi nghiên cứu: Nhóm trẻ khiếm thị từ 0 đến 6 tuổi tại tỉnh Hải Dương. Nội dung nghiên cứu: - Nghiên cứu các tài liệu liên quan để làm sáng tỏ các khái niệm về trẻ khiếm thị, CTS, CTS trẻ khiếm thị và đặc điểm phát triển của trẻ khiếm thị trong độ tuổi từ 0 đến 6.
- Nghiên cứu thực trạng công tác CTS tại nhà trường, GÐ và cộng đồng để đẻ ra các biện pháp can thiệp phù hợp, nhằm giúp trẻ khiếm thị phục hồi chức năng, phát triển kĩ năng đặc thù và đi học đúng độ tuổi. - Thực nghiệm các biện pháp CTS trẻ khiếm thị để rút ra những kết luận và đề xuất kiến nghị. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu lý luận : Phân tích và tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài; ~ Nghiên cứu thực tiễn : Khảo sát để tìm hiểu thực trạng công tac CTS thông qua phiếu hỏi GV, PH kết hợp với phỏng vấn sâu và quan sát thực tiễn. 8 - Lay ý kiến chuyên gia : Tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về thực trạng và các biện pháp đề xuất; - Thực nghiệm : Kiểm tra nhằm đánh giá hiệu quả của biện pháp trong thực tiễn và rút ra kết luận.
Quá trình triển khai nghiên cứu Xây dựng và bảo vệ đề cương của đề tài 4/2005 L- Nghiên cứu các tài liệu trong nước và nước ngoài liên quan làm cơ sở | 4/2005- lí luận cho đề tài. Dịch khoảng 500 trang tài liệu tiếng Anh và tiếng | 4/2006 Nga vé van dé CTS, GD trẻ khiếm thị tuổi MN. Viết phần lí luận của dé tài Khảo sát thực trạng về trẻ khiếm thị 0-6 tuổi, môi trường GDGĐ và | 4-10 nhà trường cũng như các điều kiện phục vụ CTS trẻ khiếm thị. /2005 L Tổ chức Hội thảo về thực trạng.
Viết báo cáo về thực trạng công tác | 6-8 CTS tại Hải Dương và nghiên cứu biện pháp CTS phù hợp để thực| /2005 nghiệm. r Bồi dưỡng chuyên môn cho cộng tác viên địa phương (GVMN trực | 6/2005- tiếp hoặc sẽ dạy học Trẻ khiếm thị) và GÐ Trẻ khiếm thị. 2/2007 - Hướng dẫn làm và cung cấp đồ chơi, phương tiện CTS cho trẻ khiếm | 8/2005- thị điển hình tham gia thực nghiệm. 10/2006 Tìm kiếm nguồn hỗ trợ bổ sung cho CTS về y tế cho trẻ khếm thị.| 2-10 Cung cấp kính trợ thị và tổ chức phẫu thuật mắt cho trẻ khiếm thị.
/2006 r Hội thảo đánh giá về kết quả CTS vẻ y tế, GD, XH giai đoạn 1 và lên | 9/2006 kế hoạch điều chỉnh, bổ sung CTS giai đoạn 2. r Tiếp tục thực hiện kế hoạch CTS 9/2006 - 3-2007 Lấy ý kiến chuyên gia về các biện pháp, viết báo cáo thực nghiệm và | 9/2006- chuẩn bị Hội thảo về kết quả nghiên cứu. 3/2007 Tổ chức Hội thảo về biện pháp và kết quả nghiên cứu 4/2007 Hoàn thiện báo cáo 4/2007 8. Sản phẩm của đề tài - Báo cáo và báo cáo tóm tắt của đề tài - Ki yếu Hội thảo Tổng kết CTS trẻ khiếm thị tại Hải Dương.
- 02 bài báo 9 Phần II: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU 1. KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN 1. Khái niệm trẻ khiếm thị 1. Khuyết tật thị giác Để xác định KT thị giác người ta căn cứ vào cấu tạo và chức năng của cơ quan thị giác.
KT thị giác có thể xác định thông qua cấu tạo của cơ quan thị giác nhờ quan sát như : Không có cầu mắt, teo nhãn câu, tăng nhãn câu, đục thuỷ tinh thể, sụp mí, lác.Tuy nhiên, rất nhiều khiếm khuyết thị giác không thể xác định được chỉ thông qua quan sát cấu tạo bên ngoài mà cần phải kiểm tra, đánh giá của các nhà chuyên môn để có kết luận chính xác. Hai yếu tố quan trọng để kiểm tra, đánh giá và phân loại KT thị giác là thị lực và thị trường. Thị lực Là khả năng của mắt phân biệt hai điểm ở gần nhau nhất trong một khoảng cách nhất định. Thị lực bình thường của mỗi mắt là I Vis đưới góc nhìn 1 phút.
Vis là đơn vị đo thị lực của mát. Thị lực giảm nghĩa là thị luc khong dat 1 Vis dưới góc nhìn a=1 phút. Thị lực được đo bằng công thức : d V= — D Trong đó: d là khoảng cách mà người được đo thị lực có thể phân biệt hai điểm ở gần nhau nhất và D là khoảng cách mà người bình thường có thể phân biệt hai điểm đó. Như vậy, nếu người được đo có thể phân biệt được các hình ở dòng thứ 10 trong bảng đo thị lực với khoảng cách Im trong khi người bình thường phân biệt được chúng với khoảng cách 5m thì thị lực của người được đo là 1/5 hoặc 0,2 Vis.
Thị lực không phải là đơn vị bất biến mà luôn dao động theo thời gian. Sự dao động này là hậu quả của lao động mỏi mệt, độ chiếu sáng thay đổi và nhiều yếu tố khác. Nếu thị lực bị thấp với ánh sáng bình thường thì khi độ sáng được tăng tới mức độ thích hợp hơn thị lực sẽ tăng (Trừ trường hợp mắt bị bạch tạng). Thị lực không phải là tiêu chí duy nhất xác định KT Khiếm thị.
Khi phân loại KT thị giác chúng ta cần quan tâm tới yếu tố thứ hai - trường thị giác. Trường thị giác được hiểu là khoảng không gian mà các điểm trong đó đều được nhìn thấy tại một thời điểm nhất định với điều kiện đầu ở vị trí bất động.