Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THÔNG TIN, BẢO ĐẢM QUYỀN THÔNG TIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG I/ Khái niệm quyền được thông tin của công dân. Quan niệm về thông tin và vai trò của thông tin Thông tin là nhu cầu thiết yếu trong mọi hoạt động của xã hội kể từ khi xuất hiện xã hội loài người. Thông tin đã trở thành công cụ quan trọng để quản lý đất nước.“Một Chính phủ không có thông tin hay không có phương tiện tiếp cận thông tin là màn dạo đầu cho tấn hài kịch hoặc bi kịch hay cả hai thứ đó” (James Madison-1822). Thông tin là phương tiện để qua đó thực hiện sự hợp tác giao lưu giữa các dân tộc, là điều kiện cần thiết để công dân có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và cũng là một yếu tố hết sức quan trọng để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
“Đối với công dân, tiếp cận thông tin sẽ là cánh cửa then chốt đưa họ tham gia vào một nền quản trị dân chủ, ở đó họ không chỉ được đặt câu hỏi mà ý kiến của họ còn được lắng nghe. Người dân được trao quyền và được tham gia”. (Nikhil Dey, Mazdoor Kisai Shakthi Sanghatan) Thông tin là nhu cầu không thể thiếu, nhờ đó mà hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người cũng như các thể chế dân chủ. “Thông tin là ôxy của nền dân chủ”.
Mức độ cởi mở thông tin được xem như tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của một xã hội. Chúng ta đang sống trong thời đại cách mạng thông tin, kinh tế thông tin và xã hội thông tin. Chính vì ảnh hưởng lớn lao của nó trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người và của mỗi quốc gia nên việc phát triển thông tin và sử dụng nó một cách có hiệu quả hiện đang là vấn đề được nhiều người quan tâm 7 nghiên cứu. Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau mà thông tin có thể được nghiên cứu theo một số hướng sau đây: - Thông tin và quyền tự do thông tin với tư cách là một trong số các quyền cơ bản của con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và pháp luật cần được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
- Thông tin với tư cách là công cụ của sự lãnh đạo quản lý. Công tác lãnh đạo, quản lý xét cho cùng là làm sao có được đầy đủ thông tin một cách nhanh nhất, chính xác nhất và xử lý tốt các thông tin để phục vụ các nhiệm vụ đặt ra trong mỗi giai đoạn. - Thông tin là công cụ để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, là điều kiện để nhân dân thực hiện quyền của mình và điều kiện để giám sát bộ máy nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước góp phần đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng lãng phí trong bộ máy nhà nước, làm cho nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân như Hiến pháp đã quy định. Lênin đã nói rằng “chỉ khi nào công dân biết mọi điều và phán xét mọi điều, đồng thời họ tham gia một cách tự giác vào hoạt động quản lý thì khi đó nhà nước mới có sức mạnh”.
Như vậy, khi nghiên cứu về các giải pháp nhằm bảo đảm quyền được thông tin của công dân góp phần phòng, chống tham nhũng, một mặt chúng ta cần nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất của quyền thông tin nói chung; mặt khác quan trọng hơn là đánh giá tác động vai trò, ảnh hưởng của nó đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; từ đó đề ra các giải pháp để thúc đẩy các yếu tố tích cực của thông tin nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Quan niệm về quyền được thông tin của công dân và việc bảo đảm quyền được thông tin của công dân - Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người ghi nhận: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, 8 truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới”1. - Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị khẳng định: "Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu tôn trọng những quyền tự do, thanh danh của người khác và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý".2 - Hiến pháp năm 1992 đã chính thức ghi nhận quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật"3.
- Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam đã ký kết và trong quá trình phê chuẩn đã có những quy định đến quyền thông tin như sau: “Điều 10. … Mỗi quốc gia thành viên của Công ước, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp nước mình, áp dụng các biện pháp cần thiết để tăng cường minh bạch trong quản lý hành chính công, khi cần thiết kể cả trong hoạt động tổ chức, thực hiện chức năng và ra quyết định. Các biện pháp đó bao gồm: a. Ban hành những trình tự, thủ tục hoặc qui định cho phép công chúng, khi thích hợp có được thông tin về tổ chức, thực hiện chức năng và ra quyết định của các cơ quan hành chính của họ mà sự riêng tư và thông tin cá nhân vẫn được bảo vệ, và những thông tin về những quyết định và hành vi pháp lý liên quan đến chúng; 1 Điều 19 Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người của Liên Hợp quốc năm 1948 2 Ðiều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp quốc năm 1966 3 Điều 69 Hiến pháp 1992 9 b.
Đơn giản hoá thủ tục hành chính ở những khâu thích hợp nhằm tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận với cơ quan ra quyết định có thẩm quyền; c. Xuất bản thông tin, có thể bao gồm báo cáo định kỳ…” Điều 13 1. Mỗi quốc gia thành viên của Công ước, trong khả năng có thể và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp nước mình, áp dụng các biện pháp thích hợp, nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của các cá nhân và tổ chức…và nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sự tồn tại, nguyên nhân và tính chất nghiêm trọng cũng như sự đe doạ của tham nhũng. thông qua các biện pháp như: (a) Tăng cường tính minh bạch trong các quá trình ra quyết định, thúc đẩy đóng góp của công chúng vào các quá trình ra quyết định; (b) Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu quả; (c) Tổ chức các hoạt động thông tin cho công chúng góp phần đấu tranh không khoan nhượng chống tham nhũng, cũng như các chương trình giáo dục công chúng, bao gồm cả chương trình giảng dạy trong nhà trường và trường đại học.
Từ những qui định trên và từ thực tiễn có thể đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về quyền được thông tin là quyền của công dân có được thông tin về những chính sách và hoạt động của Chính phủ (hiểu theo nghĩa rộng tức là chính quyền từ Trung ương đến địa phương) thông qua việc được thụ hưởng các thông tin do nhà nước mang lại hoặc yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp khi thấy cần thiết. Nội dung về quyền được thông tin của công dân. - Các bộ phận cấu thành của quyền được thông tin của công dân. Quyền này có 3 yếu tố hợp thành (ba quyền cấu thành) đó là: 10 + Quyền tiếp nhận thông tin: được hiểu là công dân được nhận thông tin qua các kênh khác nhau, tức là thông qua các loại hình truyền tải thông tin báo chí và trách nhiệm của Nhà nước trong việc thường xuyên tổ chức cung cấp thông tin, nhất là những nội dung liên quan đến lợi ích của người dân hoặc người dân quan tâm, kể cả khi họ không trực tiếp có yêu cầu.
+ Quyền tìm kiếm thông tin: Công dân chủ động bằng các phương thức hợp pháp khác nhau để có được thông tin mà họ thấy cần thiết hoặc quan tâm. Nội dung này đặc biệt liên quan đến quyền đề nghị của công dân đối với các cơ quan, tổ chức hoặc những người có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước cung cấp các thông tin mà họ nắm giữ. + Quyền phổ biến, chia sẻ thông tin: công dân có quyền truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin mà mình nắm giữ bằng các phương thức hợp pháp. - Phạm vi, chuẩn mực và giới hạn quyền được thông tin của công dân.
Quyền được thông tin là một quyền có giới hạn. Nhìn chung pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt Nam đều đưa ra chuẩn mực cho việc thực hiện quyền thông tin và khả năng tiếp cận thông tin như: Các thông tin về hoạt động công quyền được tiếp cận phải là các thông tin chính thức, mục đích sử dụng thông tin không được phương hại đến an ninh quốc gia, quyền và tự do của người khác; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan tổ chức hoặc ảnh hưởng đến trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc uy tín của người khác. Chẳng hạn Điều 38 Bộ luật dân sự Việt Nam qui định rằng quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luật Xuất bản năm 2004 cũng có quy định về việc không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được lợi dụng quyền phổ biến tác phẩm làm thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
11 Quyền được thông tin của công dân có quan hệ mật thiết và bị giới hạn bởi các nội dung: + Bí mật nhà nước; + Bí mật đời tư; + Bí mật kinh doanh.