Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN Các khái niệm liên quan đến luận án gồm những khái niệm mang tính nền tảng như biến đổi xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là những khái niệm cần được làm rõ để vận dụng, phân tích các vấn đề nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận án. Ngoài ra, luận án còn đề cập đến các khái niệm liên quan đến đối tượng nghiên cứu như nông dân, nông thôn nhằm mục đích làm rõ hơn trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án.
Các khái niệm nền tảng của luận án * Biến đổi xã hội Mọi xã hội - cũng giống như tự nhiên - không ngừng biến đổi. Ổn định của xã hội chỉ là ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng biến đổi bên trong bản thân nó. Do đó, bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù đã được định hình và có bảo thủ đến đâu cũng luôn có sự biến đổi. Sự biến đổi đó trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và trở thành là điều không còn mới mẻ.
Có nhiều quan niệm về sự biến đổi xã hội. Một cách hiểu rộng nhất, cho rằng, đó là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước. Trong phạm vi hẹp hơn, biến đổi xã hội được đề cập đến sự biến đổi về cấu trúc xã hội (hay tổ chức xã hội của xã hội đó) mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của xã hội. Biến đổi xã hội là quá trình, qua đó những khuôn mẫu của các hành vi, các quan hệ, các thiết chế xã hội, và các hệ thống phân tầng được thay đổi qua thời gian [39:277- 280].
11 Biến đổi xã hội có thể giúp xã hội tốt hơn trong tương lai. Biến đổi xã hội là: a) chắc chắn sẽ xảy ra; b) nó theo một con đường phát triển; và c) những tiến bộ tất nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn (Auguste Comte). Xã hội cũng giống như các hiện thực khác, không ngừng vận động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều đứng trong một thực trạng “đứng yên trong sự vận động liên tục”.
Dù vậy, mức độ hoặc phạm vi của sự biến đổi không giống nhau từ xã hội này đến xã hội khác. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, qua nhiều thời kỳ lịch sử, sự biến đổi của xã hội diễn ra nhanh, chậm khác nhau. Ví dụ, các xã hội săn bắn, hái lượm họ chấp nhận lối sống mới và từ bỏ phong tục truyền thống, nhưng họ làm điều đó rất chậm, trải qua hàng thế kỷ. Đối với xã hội nông nghiệp và sự hình thành các đô thị, tốc độ biến đổi xã hội diễn ra nhanh hơn, và công nghiệp hóa thì sự biến đổi xã hội chỉ trải qua vài thập kỷ, thậm chí một vài năm.
Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của biến đổi xã hội, người ta chia ra làm hai cấp độ khác nhau [39:279-280]: - Biến đổi vĩ mô: là những biến đổi diễn ra và xuất hiện trên một phạm vi rộng lớn. Bởi vì chúng diễn ra trong thời kỳ dài. Biến đổi này có thể không nhận thấy được vì nó diễn ra quá chậm đối với con người, giống như đang trải qua cuộc sống thường ngày. Như, hiện đại hóa là một quá trình, mà qua đó các xã hội trở nên khác nhau bên trong nhiều hơn; hoặc sự thay đổi các thiết chế xã hội giản đơn bằng những thiết chế xã hội phức tạp.
Cũng có những biến đổi xã hội vĩ mô mất ít thời gian hơn, nhưng cũng có thể trải qua đến vài thế hệ như xã hội công nghiệp đi từ kinh tế công nghiệp đến thông tin và kinh tế dịch vụ. - Biến đổi vi mô: liên quan đến những biến đổi nhỏ, nhanh được tạo nên những quyết định không thấy hết được, như sự tương tác trong quan hệ của con người với đời sống hàng ngày. Xét về đặc điểm của biến đổi xã hội, hai tác giả trên cũng đưa ra nhận định: biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không giống 12 nhau giữa các xã hội; khác biệt về thời gian và hậu quả; ảnh hưởng cũng khác nhau tùy thuộc vào tính chất, mức độ, phạm vi; vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch [39:297-280]. Từ những quan điểm nhận định về biến đổi xã hội nêu trên, chúng tôi nhận thấy, biến đổi xã hội là một quá trình và do con người tạo nên, đồng thời, chịu tác động của nhiều yếu tố nội sinh và ngoại sinh.
Biến đổi xã hội theo nghĩa rộng đó là sự biến đổi toàn bộ xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Bên cạnh đó, biến đổi xã hội còn diễn ra ở khía cạnh hẹp hơn đó là chuyển đổi của cơ cấu việc làm, thu nhập, quan hệ xã hội, phân tầng xã hội, giáo dục, y tế… Luận án nghiên cứu về sự biến đổi xã hội nông thôn TP. Hồ Chí Minh dưới tác động của quá trình CNH, HĐH theo góc tiếp cận thứ hai. Theo góc tiếp cận này, chúng tôi xem chính sách phát triển của TP.
Hồ Chí Minh, quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa là những tác nhân quan trọng dẫn đến quá trình biến đổi xã hội ở nông thôn thành phố. Đó là sự biến đổi đi từ thấp đến cao hơn, hiện đại và văn minh hơn. Trong chiều hướng biến đổi đó, con người cũng có những sự lựa chọn duy lý, tìm kiếm sinh kế phù hợp với khả năng của bản thân và gia đình để thích ứng trước những sự biến đổi của xã hội. * Đô thị hóa Khái niệm đô thị hóa ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XIX khi các nhà nghiên cứu đề cập đến tình trạng phát triển mạnh mẽ về mặt hình thể của các đô thị như là một kết quả tất yếu của sự phát triển toàn cầu [18-website].
Theo đó, đô thị hóa được xem như sự mở rộng của đô thị tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Đô thị hóa còn là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị và hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu của công nghiệp hóa [112:9]. Đô thị hóa cũng được đánh dấu bởi sự chuyển đổi cấu trúc lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ; hay nói đúng hơn, nó là sự 13 chuyển đổi từ quá trình kinh tế - xã hội này sang quá trình kinh tế - xã hội khác, là chuyển từ nông thôn sang thành thị, chuyển từ một nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp cao hơn; nhưng đôi khi, đô thị hóa cũng dẫn đến những tác động tiêu cực như làm giảm đất nông nghiệp, phá hủy môi trường sống (destruction of habitats) và tạo ra những bất lợi cho kinh tế đô thị (urban diseconomies) [Geography Dictionary] [98:41]. Hoặc, đô thị hóa là một tiến trình rất phức tạp, bao gồm những thay đổi cơ bản trong phân bố lực lượng sản xuất, trong sự phân bố dân cư, dân số, trong kết cấu nghề nghiệp, trong lối sống, trong văn hóa… [119:12]; Hoặc đô thị hóa là một quá trình chuyển từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên địa bàn nhất định.
Đây là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, nó diễn ra trên một không gian rộng lớn và khoảng thời gian lâu dài để chuyển biến các xã hội nông nghiệp - nông dân - nông thôn sang các xã hội đô thị - công nghiệp - và thị dân [94:17]. Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về đô thị hóa, nhưng nhìn một cách tổng quát nhất, có thể xem đô thị hóa là quá trình chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị và có thể nhận diện bằng một số biểu hiện như sự tập trung dân cư đông; thay đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ; thay đổi về lối sống, các mối quan hệ xã hội. * Công nghiệp hóa và hiện đại hóa - Công nghiệp hóa là khái niệm ra đời vào khoảng thế kỷ XIX khi cuộc cách mạng công nghiệp phát triển trên phạm vi toàn cầu. Công nghiệp hóa là tiến trình thay đổi nền kinh tế-xã hội từ xã hội tiền công nghiệp (pre-industrial society) sang xã hội công nghiệp (industrial society).
Sự thay đổi này là một phần nằm trong tiến trình hiện đại hóa, bằng việc tiếp cận sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nền kinh tế [152:472]. Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc 14 dân và đặc biệt trong công nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kĩ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động [130:209]. - Hiện đại hóa: trong khoa học xã hội, khái niệm này được đề cập đến như là một kiểu mẫu của sự chuyển đổi mang tính cách mạng từ xã hội truyền thống hoặc tiền hiện đại (pre-modern) sang xã hội hiện đại (modern). Thông thường, hiện đại hóa gắn liền với tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa [140:1-3].
Khái niệm hiện đại hóa được sử dụng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, được dùng để chỉ những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh chóng về các phương diện kinh tế công nghiệp [148:7-24]. Hệ quả của hiện đại hóa là xã hội mang tính chất của thời đại ngày nay; nền kinh tế trở nên đầy đủ mọi trang thiết bị của nền công nghiệp hiện đại [130:438]. Theo Từ điển bách khoa của Anh, hiện đại hóa là “sự chuyển biến (transformation) từ một xã hội truyền thống, nông thôn, nông nghiệp sang một xã hội thế tục (secular), đô thị, công nghiệp. Xã hội hiện đại là xã hội công nghiệp.
Để hiện đại hóa một xã hội thì trước hết phải công nghiệp hóa nó. Về mặt lịch sử, sự nổi lên của xã hội hiện đại gắn liền với sự nổi lên của xã hội công nghiệp. Mọi đặc điểm liên quan đến tính hiện đại (modernity) đều gắn với những biến đổi, trong không đầy hai thế kỷ, đưa đến kiểu xã hội công nghiệp. Điều này gợi ý rằng thuật ngữ chủ nghĩa công nghiệp (industrialism) và xã hội công nghiệp hàm ý nhiều hơn là tính kinh tế và công nghệ, cho dù đó là những cốt lõi.
Chủ nghĩa công nghiệp là một lối sống (way of life) bao gồm những biến đổi kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa.