phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương chính có kết cấu như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm và sự biến đổi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN dƣới tác động của nghị định 115/2005/NĐ-CP 1. Các khái niệm công cụ 1. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN 1.
Sự thích nghi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN công lập dưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2. Phân tích thực trạng quá trình chuyển đổi của các tổ chức dịch vụ KH&CN công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP 2. Thực trạng phát triển của các Trung tâm dịch vụ KH&CN trên địa bàn cả nước. Tác động của nghị định 115/2005/NĐ-CP với các Trung tâm dịch vụ KH&CN trên cả nước.
Những bất cập trong quá trình chuyển đổi theo nghị định 115/2005/NĐ-CP của các Trung tâm dịch vụ KH&CN Chƣơng 3. Nhận diện xu thế biến đổi của các Trung tâm KH&CN công lập dƣới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP 3. Xu thế biến đổi của các tổ chức KH&CN công lập 3. Những biến đổi của Trung tâm dịch vụ KH&CN Hà Nam sau khi chuyển sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Đề xuất một số giải pháp cho sự biến đổi 3. Điều kiện để thực hiện thành công các giải pháp 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ KH&CN DƢỚI TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP. Các khái niệm công cụ 1.
Khái niệm về tổ chức KH&CN công lập a) Tổ chức là gì Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không giống nhau và có nhiều cách tiếp cận định nghĩa về tổ chức, cụ thể: Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”có định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là: “Tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” [16, tr.25] Y học cho rằng trong sinh vật đơn bào, các tế bào đơn lẻ thực hiện tất cả các chức năng sống, nó hoạt động một cách độc lập. Tuy nhiên, sinh vật đa bào có mức độ khác nhau của tổ chức cơ thể của chúng. Mỗi tế bào có thể thực hiện chức năng cụ thể riêng nhưng tuân thủ mục đích chung vì lợi ích của toàn bộ cơ thể và vì thế các tế bào trở nên phụ thuộc lẫn nhau, liên kết với nhau vì mục đích chung này. Xét theo quan điểm hệ thống, tổ chức sinh vật đa bào là một hệ thống tổ chức phức tạp nhất và chuẩn chỉnh nhất.
Theo tiếp cận xã hội học, tổ chức được xem như là một thực thể xã hội tập hợp các nhóm người khác nhau để thực hiện mục tiêu - nhiệm vụ nào đó. Xét theo khía cạnh luật pháp học, tổ chức là đơn vị có tư cách pháp nhân, có điều lệ hoạt động và có trụ sở giao dịch. Tư cách pháp nhân được hiểu là quyền được tố tụng và bị tố tụng. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, luận văn cho rằng tổ chức là một thực thể xã hội hoặc quá trình liên kết con người với phương tiện – công cụ để thực hiện một mục tiêu - nhiệm vụ nào đó.
Ví dụ, trung tâm dịch vụ KH&CN là một tổ chức bao gồm các nhân sự với chuyên môn khác nhau để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ KH&CN cho xã hội; quá trình thương mại điện tử - liên kết con người với máy tính – mạng internet để thực hiện các thương vụ v.v… b) Tổ chức KH&CN Theo Luật KH&CN 2013, tổ chức KH&CN “là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KH&CN, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật. 2] Theo Luật này, tổ chức KH&CN bao gồm các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các trường cao đẳng và đại học, các tổ chức dịch vụ KH&CN. Các loại hình tổ chức KH&CN này có thể là các tổ chức thuộc Chính phủ, bộ và cơ cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp; thuộc các hiệp hội xã hội nghề nghiệp, tập thể tự nguyện, tư nhân, liên doanh liên kết với nước ngoài (có yếu tố nước ngoài), thuộc doanh nghiệp v.v… Theo nghị định 35-HĐBT ngày 28 tháng 2 năm 1993 thì tổ chức KH&CN có quyền được thực hiện đồng thời 3 hoạt động: Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật; hoạt động đào tạo và bồi dưỡng; hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo đó, viên nghiên cứu, trường đại học có thể là chủ sang lập các doanh nghiệp trực thuộc hoặc phối thuộc.
Hệ thống các tổ chức KH&CN nước ta sau khi ban hành Nghị định 35 –HĐBT bao gồm: các viện nghiên cứu và triển khai thuộc mọi thành phần kinh tế, trong trường đại học, thuộc doanh nghiệp. Đây là một hệ thống mở, 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đa dạng về hoạt động và hình thức tổ chức cũng như hình thức sở hữu được hình thành dưới tác động của thiết chế tự do hóa của Nghị định này. Theo Vũ Cao Đàm [8; tr.292] các mô hình tổ chức KH&CN có thể bao gồm bốn mô hình cơ bản như sau: - Mô hình I: là mô hình cổ điển nhất, trong đó các tổ chức NC&TK thực hiện trọn vẹn các giai đoạn của quá trình NC&TK, còn các doanh nghiệp chỉ làm nhiệm vụ sản xuất và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất. Giữa tổ chức NC&TK và doanh nghiệp tồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò cầu nối từ NC&TK tới sản xuất.
- Mô hình II: là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ công nghệ mới bằng cách tự mình làm triển khai, từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm mới (prototype), làm pilot để xây dựng công nghệ và sản xuất loạt “0”, đưa vào sản xuất công nghiệp và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất. - Mô hình III: tổ chức NC&TK tạo ra các doanh nghiệp KH&CN (xí nghiệp spin-off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào doanh nghiệp này, đồng thời để doanh nghiệp này kiêm luôn cả chức năng của một công ty tư vấn. - Mô hình IV: doanh nghiệp KH&CN kéo dài chức năng về phía trước, bắt đầu từ nghiên cứu ứng dụng qua triển khai tới tư vấn. Với các dẫn liệu trên, Luận văn cho rằng, tổ chức KH&CN là tổ chức có tư cách pháp nhân được thực hiện các hoạt động nghiên cứu Khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo và tái đào tạo nhân lực KH&CN, sản xuất kinh doanh và cung cấp các dịch vụ có liên quan.
Như vậy, hoạt động của tổ chức KH&CN có thể bắt đầu từ nảy sinh ý tưởng, nghiên cứu, triển khai, thiết kế thử nghiệm, nắm vững sản xuất qua seri 0 tiến tới sản xuất đại trà và phổ cập thị trường. Tuy nhiên cần nhấn mạnh 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rằng do ưu thế của mình, các tổ chức KH&CN nên sản xuất những sản phẩm thâm dụng tri thức, những sản phẩm có sức cạnh tranh cao mà doanh nghiệp thông thường không thể sản xuất được. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương nơi phải canh tranh gay gắt với các loại hình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư v.v… c) Tổ chức KH&CN công lập Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định về tổ chức sự nghiệp công lập như sau: “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công). Căn cứ quy định này, từ các phân tích tại mục b) trên đây luân văn có thể rút ra định nghĩa tổ chức KH&CN công lập là tổ chức KH&CN do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập đặt trực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp.
Các tổ chức này là những đơn vị sự nghiệp trong bộ máy quản lý nhà nước, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công cũng như á công. Các tổ chức KH&CN công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, gồm: + Tổ chức nghiên cứu khoa học là những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước không thuộc diện bắt buộc chuyển đổi. + Tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ: là những tổ chức nghiên cứu và thực nghiệm các công nghệ mới và sản phẩm mới. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các tổ chức KH&CN công lập được tổ chức dưới các hình thức: viện, trung tâm, trạm, trại (nghiên cứu, quan trắc, thử nghiệm) và các cơ sở nghiên cứu và phát triển khác thuộc Nhà nước.
+ Tổ chức NC&TK: có chức năng nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm nhằm tạo ra các bước phát triển KH&CN, sẵn sàng cho việc áp dụng vào dự trữ công nghệ. + Các Viện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách là những tổ chức KH&CN công lập có chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý Nhà nước. d) Năng lực nghiên cứu khoa học của tổ chức KH&CN Với cách tiếp cận theo các yếu tố đầu vào của hoạt động NC&TK, năng lực NC&TK thường được xem xét trên các yếu tố cơ bản là nhân lực, tài chính, thông tin KH&CN và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NC&TK. - Về nhân lực, năng lực NC&TK của một tổ chức thể hiện qua số lượng, cơ cấu về trình độ chuyên môn, về biên chế (chính nhiệm, kiêm nhiệm, hợp đồng), về giới tính.của nhân lực tham gia hoạt động NC&TK và khả năng đáp ứng các yêu cầu của hoạt động này.
Theo OECD, nhân lực NC&TK là toàn bộ những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động NC&TK và những người thực hiện các dịch vụ trực tiếp cho hoạt động NC&TK như cán bộ quản lý, cán bộ hành chính, nhân viên văn phòng trong đơn vị NC&TK. Ngoài ra năng lực về nhân lực còn được thể hiện qua việc phối hợp sử dụng nhân lực ( chuyên gia) ở bên ngoài và tình hình đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhân lực bên trong tổ chức.