Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu Chương 2: Dòng họ của ngườiTày ở xã Quang Lang Chương 3: Biến đổi quan hệ dòng họ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các nghi lễ vòng đời từ năm 1986 đến nay Chương 4: Biến đổi quan hệ dòng họ trong hoạt động kinh tế và đời sống xã hội từ năm 1986 đến nay 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu 1.1 Tổng quan nghiên cứu về dòng họ.1 Nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở Việt Nam Nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở người Kinh(Việt): Dòng họ là thành tố văn hóa, thiết chế xã hội quan trọng, góp phần tạo nên kết cấu làng xã. Dòng họ sớm đã đóng vai trò và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Việt. Do vậy, từ lâu dòng họ là đề tài thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu với nhiều lĩnh vực khác nhau: xã hội học, sử học, văn hóa, dân tộc học… Vấn đề dòng họ được đề cập trong các bộ chính sử, các công trình nghiên cứu về làng xã, các chuyên khảo về dòng họ trong mối quan hệ với văn hoá, phong tục người Việt, cấu trúc kinh tế - xã hội Việt Nam truyền thống(Gourou 2004, Trần Quốc Vượng 1997, Phan Đại Doãn 1999; 2003, Trần Từ 1984,. Những công trình này từ chỗ hệ thống, mô tả về phả hệ của các dòng họ hay thống kê, điều tra về tên các dòng họ ở các làng xã trong thời phong kiến và thuộc địa đã đi tới tìm hiểu về cấu trúc, nội dung, vai trò và ảnh hưởng của dòng họ đối với các thành viên, trong đời sống cộng đồng làng xã và trong lịch sử của dân tộc.
Tiếp nối hướng nghiên cứu trên, trong những năm 2000, đã có nhiều công trình khóa luận, luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề dòng họ của người Kinh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tiêu biểu, luận án Tiến sĩ Lịch sử của Phan Chí Thành (2006), với nghiên cứu “Dòng họ và đời sống làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ qua tư liệu ở một số xã thuộc huyện Thạch Thất – Hà Tây”; Luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học của Đỗ Thị Phương Anh (2006) về “Văn hóa dòng họ Nguyễn Quý làng Đại Mỗ (xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội)”; Khóa luận tốt nghiệp Lịch sử của Lê Minh Anh (2000) về “Dòng họ và quan hệ dòng họ của người Việt làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”… Mặc dù các công trình này còn nặng về truyền thống nhưng đã khái quát được thực trạng, xu hướng vận động và một số biến đổi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của các dòng họ ở các địa phương khác nhau, qua đó làm rõ vai trò của dòng họ trong đời sống cộng đồng. Mới đây nhất, có hai nghiên cứu quan trọng về quan hệ dòng họ của người Việt đã được thực hiện (Nguyễn Tuấn Anh 2010; Nguyễn Thu Hiền 2015). Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Tuấn Anh (2010) “Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village”.
Đã phân tích về biến đổi trong quan hệ dòng họ và vai trò của vốn xã hội ở một làng quê Nghệ An. Tác giả đã phân tích một cách có hệ thống quan hệ dòng họ ở làng được nghiên cứu từ thời trước Cách mạng Tháng Tám cho đến nay. Tác giả cho rằng trong xã hội Việt Nam truyền thống trước Cách mạng, nội tộc đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ dòng họ. Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, do tác động của cải cách ruộng đất, phong trào tập thể hoá và cuộc vận động về tư tưởng, diễn ra sự giản tiện hoá các nghi lễ thờ cúng của dòng họ, vai trò và chức năng của dòng họ bị suy giảm ở cả các khía cạnh tín ngưỡng, kinh tế và giáo dục.
Quan hệ tình cảm của các thành viên trong họ cũng bị tổn hại trong thời kỳ này. Sang thời kỳ Đổi mới, qua sự phục hồi và tăng cường các nghi lễ thờ cúng, nghi lễ vòng đời, người dân có xu hướng gây dựng vốn xã hội không chỉ giữa những người trong họ nội mà còn cả với những người trong mạng lưới họ hàng bên ngoại, họ bên vợ (chồng). Quan hệ dòng họ ở đó không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp tang ma, cưới xin mà còn trở thành vốn xã hội trong đầu tư giáo dục cho trẻ em, trong các hoạt động kinh tế và vay vốn tín dụng tư nhân. Trong khi đó, luận án Tiến sỹ của Nguyễn Thu Hiền (2015) nghiên cứu về “Quan hệ dòng họ ở làng gốm Bát Tràng (xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) - truyền thống và biến đổi” lại cho thấy kết quả thú vị khác.
Nghiên cứu cho rằng do đặc thù của một làng nghề, quan hệ dòng họ ở Bát Tràng vừa có nét chung của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ, vừa có nét riêng của làng nghề. Trong giai đoạn hiện nay, ở Bát Tràng có sự biến đổi về 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổ chức và tôn ty trật tự trong quan hệ dòng họ. Nguyên tắc “đích trưởng”, Hội đồng gia tộc được thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với tính năng động của các thành viên trong họ. Giống như Nguyễn Tuấn Anh (2015), tác giả khẳng định rằng nữ giới ngày nay cũng có thể được tham gia vào việc họ.
Ngoài ra, còn có sự biến đổi trong tổ chức thờ cúng dòng họ với phong trào trùng tu, tôn tạo nhà thờ, tổ chức thờ cúng với quy mô và hình thức lớn hơn. Trong khi đó, do những thay đổi trong tục lệ tang ma, cưới xin, sự tương trợ về kinh tế, nhân công của dòng họ trong các dịp này lại giảm đi. Vai trò của quan hệ dòng họ trong lĩnh vực kinh tế cũng không thực sự nổi bật do quan hệ dòng họ trong hoạt động kinh tế ở làng nghề ở đây vốn đã mờ nhạt. Điểm lại các công trình nghiên cứu về dòng họ ở người Việt cho thấy các nghiên cứu còn nặng về quá khứ, ít thảo luận về sự biến đổi của các yếu tố truyền thống trong xã hội đương đại.
Tuy nhiên, kết quả của một số ít các nghiên cứu đề cập đến biến đổi của quan hệ dòng họ ở làng Việt nêu trên cho thấy nhiều khía cạnh trong quan hệ dòng họ đã và đang biến đổi. Có cả sự tương đồng và khác biệt trong xu hướng biến đổi ở các cộng đồng, tuỳ thuộc vào đặc thù kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi địa phương. Các kết quả đó gợi mở sự cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về vai trò của dòng họ, quan hệ dòng họ như là một phần của thiết chế văn hoá, xã hội trong sự phát triển hiện nay của người Việt và việc áp dụng những hướng nghiên cứu này ở các tộc người thiểu số ở nước ta trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở các tộc người thiểu số: Dòng họ và quan hệ dòng họ được đề cập và nghiên cứu trong nhiều công trình Dân tộc học/Nhân học về các tộc người thiểu số ở nước ta.
Do điều kiện hạn hẹp, chúng tôi chỉ xin điểm qua một vài xu hướng nghiên cứu chính về chủ đề này ở một số tộc người. Ở khu vực miền núi phía Bắc, các nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ tập trung nhiều vào các dân tộc có dân số lớn như Thái, Nùng, Hmông. Trong đó, có thể nói, nghiên cứu về dòng họ người Hmông thu hút 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự quan tâm lớn của các học giả và đem lại nhiều kết quả lý thú. Các nghiên cứu về dòng họ của người Hmông đều khẳng định rằng thiết chế dòng họ là điểm cốt lõitrong xã hội người Hmông, có vai trò cố kết cộng đồng cũng như trong việc quản lý xã hội (Vương Duy Quang 1987, Phạm Quang Hoan 1994,Hồ Ly Giang 2013) Vấn đề dòng họ và quan hệ dòng họ của người Thái cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu.
Nghiên cứu của tác giả Cầm Trọng (1977) về “Quan hệ dòng họ trong các bản của người Thái ở vùng Tây Bắc” phân tích mối quan hệ: ải nọng, lúng ta, nhính xao. Ba họ này có mối quan hệ mật thiết với nhau trên cả huyết thống và các mối quan hệ khác quanh nó. Đó là không phải anh cũng là em; chẳng phải họ bên vợ cũng là họ bên mẹ, bên bà; không phải họ bên nội cũng là họ dâu gia. Tác giả Vi Văn An có bài viết “Đôi nét về dòng họ người Thái vùng đường 7, tỉnh Nghệ Tĩnh” (1988) chỉ ra sự khác nhau trong quan hệ dòng họ của ba nhóm: ải nọng, lúng ta, nhính xao.
Tác giả cho rằng, mặc dù dòng họ vẫn tồn tại nhưng có sự thay đổi sâu sắc bên cạnh sự bảo lưu đậm nhạt khác nhau giữa các nhóm người Thái. Sự khác biệt trong quan niệm, luật tục liên quan đến dòng họ và mối quan của ba nhóm dòng họ trên trong các nhóm Thái vùng đường 7 với nhóm Thái Quỳ Châu và Thái Tây Bắc có thể giải thích bằng sự du cư của người Thái từ những con đường và thời điểm khác nhau. Do vậy, những tục lệ liên quan đến dòng họ không còn bền vững. Nghiên cứu của cũng cho rằng mỗi bản người Thái thường có một hoặc hai họ lớn được coi là họ gốc.
Xung quanh họ này có nhiều họ khác có quan hệ dâu gia với họ lớn. Biểu hiện tập trung nhất trong quan hệ dòng họ của người Thái là ý thức về ông tổ chung và các nghi lễ tôn giáo chung của dòng họ. Đối với dòng họ của người Nùng, Luận án Tiến sĩ của Lê Minh Anh (2014) gần đây nghiên cứu về “Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình (Nghiên cứu ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn)” có thể xem là một công trình chuyên sâu về chủ đề này. Tác giả phân tích khá chi tiết về dòng họ người Nùng Phàn Slình ở Cao lộc với những quan niệm, đặc điểm, cấu trúc và vai 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trò của cá nhân trong dòng họ.
Đồng thời tác giả làm rõ mối quan hệ dòng họ trong đời sống tín ngưỡng, trong hoạt động kinh tế và trong hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở.