CHƯƠNG I. Đặc điểm địa lý khu vực Nam Bộ 1. Vị trí địa lý Khu vực nghiên cứu nằm từ 8 – 13 độ vĩ bắc và từ 103. Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia, phía Đông Đông Bắc giáp Nam Trung Bộ.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khu vực nghiên cứu Nam Bộ chia thành 2 khu vực là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Đông Nam Bộ bao gồm 6 tỉnh, thành là Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng diện tích tự nhiên toàn khu vực khoảng gần 24. Tây Nam Bộ bao gồm 13 tỉnh là Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An.
Tổng diện tích tự nhiên toàn khu vực gần 41. Với vị trí của mình, Nam Bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong giao thương kinh tế và đảm bảo quốc phòng – an ninh của đất nước. Địa hình Khu vực Nam Bộ nhìn chung địa hình khá bằng phẳng. Phần Đông Nam Bộ có độ cao từ 0 – 986m, cấu tạo chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa cổ.
Hơn 70% diện tích vùng cao trên 50m, chủ yếu là các đồi thấp, một số chia cắt khá mạnh ở tỉnh Bình Phước. Các ngọn núi cao ở khu vực bao gồm: núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986m, núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 838m, núi Bà Rá (Bình Phước) cao 736m, núi Mây Tào (Bà Rịa – Vũng Tàu) cao 666m, núi Dinh (Bà Rịa – Vũng Tàu) cao 505m và núi Cậu (Bình Dương) cao 289m. Khu vực đồng bằng sông nước chiếm khoảng trên 6 triệu ha với khoảng 4.000 kênh rạch tổng chiều dài lên đến 5. Phần Tây Nam Bộ có độ cao trung bình gần 2m, chủ yếu là miền đất phù sa mới.
Tây Nam Bộ bao gồm 3 tiểu vùng: Vùng cao ở phía tây gồm các tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long là Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, phần phía tây các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và phần phía đông Kiên Giang. Đây là vùng thường bị ngập vào mùa mưa bởi nước sông Cửu Long dâng lên. Vùng thấp ở duyên hải phía đông gồm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, phần phía đông Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và phần ven biển Kiên Giang, đây là vùng thường bị mặn xâm nhập vào mùa khô. Hai hệ thống sông lớn là sông Đồng Nai và sông Cửu Long giữ vai trò quan trọng đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khí hậu a) Nhiệt độ: Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, nền nhiệt độ cao và hầu như không phân hoá theo mùa, nhiệt độ trung bình năm là 26 -270C. Không có tháng nào nhiệt độ xuống dưới 250C, chênh lệch giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không đáng kể, chỉ khoảng 3 - 3,50C. Biến trình năm của nhiệt độ có 2 cực đại vào tháng IV, tháng VIII và 2 cực tiểu vào tháng XII, tháng VII.
Tổng nhiệt độ đạt được 9. Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng I, trung bình 25 – 260C, riêng miền đông 19 – 200C. Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 14 – 150C (miền đông 120C). Thời kì có nhiệt độ cao là các tháng III, IV, VIII, trung bình là 27,5 - 28,50C, tháng IV là tháng nóng nhất nhiệt độ trên 280C.
Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 38 – 390C, miền đông 400C. Nhìn chung chế độ nhiệt ở Nam Bộ tương đối dịu hơn so với miền Trung. Biên độ nhiệt độ ngày đêm khá cao, khoảng 9 – 100C, biên độ lớn nhất xảy ra vào các tháng mùa khô [1]. b) Lượng mưa: Ở khu vực Nam Bộ, mưa phân hóa rõ rệt theo không gian và thời gian.
Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô diễn ra từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chỉ chiếm khoảng 5% tổng lượng mưa năm. Mùa mưa là thời kỳ thịnh hành của gió mùa tây nam, gắn liền với mùa hoạt động của các xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên vùng biển Tây Thái Bình Dương và Biển Đông. Nam Bộ có hai tâm mưa lớn: một ở bán đảo Cà Mau và một ở phía bắc Miền Đông (Bình Phước, bắc Đồng Nai). Vùng ít mưa nhất thường là vùng nằm ven giữa sông Tiền, sông Hậu về phía thượng lưu, vùng nằm dọc ven Biển Đông từ Bà Rịa- Vũng Tàu đến Bến Tre, và vùng Châu Đốc - Long An.
Có thể chia khu vực Nam Bộ thành 4 tiểu vùng dựa vào sự phân bố mưa như sau: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tiểu vùng Nam Bình Thuận: Khí hậu gần giống phần cực Nam Trung Bộ, lượng mưa khá hơn, trung bình 1000 - 1300mm, số ngày mưa là 70 - 90 ngày. Mùa mưa kéo dài từ tháng V - tháng X. Tháng VII có lượng mưa lớn nhất cũng chỉ đạt khoảng 200 - 250mm. - Tiểu vùng Đông Nam Bộ: Gồm Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh.
Mưa tương đối nhiều, lượng mưa trung bình 1800 - 2000mm, số ngày mưa là 120 - 140 ngày. Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng XI, khoảng 7 tháng. Lượng mưa tập trung 70 - 90% trong mùa mưa và phân bố khá đồng đều, trung bình đạt 200 - 350 mm/tháng. Tháng mưa lớn nhất là tháng IX ( 320 - 350mm), cực đại phụ là tháng IV.
Mùa khô kéo dài khoảng 5 tháng từ tháng XII đến tháng IV, các tháng giữa mùa chỉ có 1 - 2 ngày mưa nhỏ dưới 10 mm/ngày. - Tiểu vùng Trung Nam Bộ: Gồm Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ. Lượng mưa tương đối nhỏ và phân bố khá đồng đều, trung bình 1400 - 1500mm (Gò Công dưới 1200mm). Số ngày mưa ít, 100 - 110 ngày, mùa mưa từ tháng V - XI.
Mưa nhiều nhất là tháng X, lượng mưa trên 250 mm/tháng, mưa muộn hơn miền Đông và miền Tây. Cực đại phụ vào tháng VII (220 - 230mm/tháng). Mùa khô kéo dài từ tháng XII - IV, thời kỳ này lượng mưa thấp, tương tự như miền Đông Nam Bộ. - Tiểu vùng Tây Nam Bộ: Gồm An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau.
Mưa khá nhiều, lượng mưa trung bình 2000 - 2200mm, số ngày mưa là 120 - 150 ngày. Mùa mưa kéo dài từ tháng V - XI. Tháng mưa cực đại là tháng IX (300 - 350 mm/tháng), cực đại phụ đạt 300 - 320 mm/tháng xảy ra vào tháng VII. Thời kì ít mưa kéo dài từ tháng XII - IV, các tháng khô nhất là tháng I, II, III (lượng mưa trung bình dưới 30mm/tháng).
Ở Phú Quốc có lượng mưa lớn hơn do địa hình cao (núi đảo và núi con voi), trung bình 2800 - 3200mm, số ngày mưa khoảng 140 ngày. c) Độ ẩm: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chế độ ẩm được đánh giá qua độ ẩm tương đối r. Cán cân ẩm phản ảnh qua các chỉ số ẩm ướt thực nghiệm. Phân bố độ ẩm tuyệt đối chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nhiệt độ nên phân bố ẩm theo thời gian tương tự như phân bố nhiệt độ.
Độ ẩm trung bình cả năm từ 82 - 83%, riêng Cà Mau và Phước Long, Phú Quốc có độ ẩm trung bình năm 85%, vùng ven biển Đông chỉ có khoảng 80%. Thời kỳ ẩm trùng với mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) độ ẩm trên 83-85%. Tháng ẩm nhất là tháng 9, tháng 10 trên 85-87%. Thời kỳ khô trùng với mùa khô ít mưa, trừ tháng 12 là tháng chuyển tiếp từ mùa mưa sang mùa khô, các tháng khác giảm xuống 75-78%, ven biển phía tây khoảng 80%.
Tháng khô nhất là từ tháng 2 đến tháng 3 khoảng 75%. Độ ẩm thấp nhất dưới 20% ở phía bắc miền đông Nam Bộ, còn ở đồng bằng sông Cửu Long là 24 – 30%. Như vậy, sự phân hóa rõ rệt giữa 2 mùa (mùa khô và mùa mưa) là nét đặc trưng của khí hậu Nam Bộ. Khái quát về nắng nóng và các hình thế cơ bản gây nắng nóng khu vực Nam Bộ 1.
Khái quát chung về nắng nóng Nắng nóng là một dạng thời tiết đặc biệt thường xảy ra trong những tháng mùa hè. Nắng nóng là sự biểu hiện khi nền nhiệt độ trung bình ngày khá cao và được đặc trưng ở nhiệt độ cao nhất trong ngày. Nắng nóng có thể xảy ra trong trường hợp ít mây, độ ẩm tương đối của không khí thấp (thông thường giảm xuống dưới 55%) thì được gọi là hiện tượng khô nóng. Trường hợp nắng nóng xảy ra trong điều kiện nhiều mây, độ ẩm tương đối trong không khí tương đối cao khi đó thời tiết kèm theo nó là rất oi bức, cơ thể con người cảm thấy rất khó chịu.
Trong những ngày nắng nóng đôi khi có xảy ra mưa rào và dông vào lúc chiều tối. Tuy nhiên do các yếu tố khí tượng có mối quan hệ khá chặt chẽ nên đơn giản mức độ nắng nóng được căn cứ theo nhiệt độ cao nhất trong ngày. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một ngày trên một địa phương nào đó được coi là có nắng nóng khi nhiệt độ cao nhất trong ngày 350C ≤ Tx < 370C, được coi là có nắng nóng gay gắt khi 370C ≤ Tx < 390C, còn khi Tx≥ 390C được coi là ngày nắng nóng đặc biệt gay gắt.Trong một khu vực dự báo (ví dụ khu vực đồng bằng Bắc Bộ) quan sát thấy có ít nhất từ 1/2 số trạm quan trắc trong khu vực trở lên có nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥ 350C thì được gọi là ngày nắng nóng diện rộng. Còn khi chỉ quan sát thấy dưới 1/2 số trạm trong khu vực có nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥ 350C thì được gọi là nắng nóng cục bộ.
Một ngày được coi là nắng nóng gay gắt trên diện rộng khi có ít nhất 2/3 số trạm quan trắc trong khu vực có nhiệt độ cao nhất Tx ≥ 350C, trong số đó có ít nhất 1/2 số trạm quan trắc trong khu vực dự báo có nhiệt độ cao nhất Tx ≥ 370C. Một ngày có nắng nóng trên diện rộng nhưng chỉ quan trắc được dưới 1/2 số trạm trong khu vực có Tx ≥ 370C thì được coi là nắng nóng gay gắt cục bộ. Khi nắng nóng diện rộng xuất hiện liên tục từ 2 ngày trở lên trong một khu vực dự báo thì được gọi là một đợt nắng nóng.