ĐẶT VẤN ĐỀ Thị trấn Xuân Mai và các khu vực lân cận đã được quy hoạch đến năm 2020 trở thành đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội; theo đó tổng diện tích quy hoạch là 3450 ha, bao gồm 03 khu. Khu 2 của đô thị vệ tinh tương lai, hiện đang được sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp và khu định cư (các ấp xóm xen kẽ trong nền đồng ruộng, ao hồ), thuộc kiểu hệ sinh thái đất ngập nước. Trong đề án quy hoạch đô thị vệ tinh Xuân Mai; khu 2 được quy hoạch để hướng đến các chức năng chính gồm: bảo tồn cấu trúc làng xóm hiện hữu; cải tạo hệ thống mặt nước nhằm tăng khả năng thoát nước trong trường hợp có lũ rừng ngang qua; là khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, cảnh quan thiên nhiên cây xanh gắn kết với mặt nước tự nhiên (Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội, 2015). Công tác triển khai thực hiện quy hoạch khu 2 cũng như toàn bộ đô thị vệ tinh Xuân Mai đòi hỏi một cơ sở khoa học sinh thái vững chắc để quá trình đô thị hóa hài hòa với môi trường tự nhiên hiện hữu của khu vực.
Quần xã chim là một hệ thống động, sự biến đổi kết cấu của nó có thể phản ánh khá rõ mối quan hệ tương hỗ giữa chim với môi trường sống và giữa các loài chim với nhau. Các quần thể chim khác nhau vốn tồn tại tính lệ thuộc đối với một số nơi cư trú đặc thù, chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự biến đổi của môi trường, và có thể xem là yếu tố chỉ thị cho sự biến đổi của môi trường (Perrins et al, 1984). “Đất lành chim đậu” là câu tục ngữ đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng cho khu vực thị trấn Xuân Mai, đặc biệt là ở các sinh cảnh đất ngập nước với nhiều loài chim đến đây kiếm ăn và cư trú. Do đó, tôi đã lựa chọn theo dõi phản ứng của quần xã chim để suy đoán ra các thành phần còn 1 lại của sinh cảnh đất ngập nước, từ đó làm cơ sở đánh giá chất lượng môi trường sinh thái của khu vực Xuất phát từ bối cảnh trên, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Biến đổi kết cấu quần xã chim hoang dã trong hệ sinh thái đất ngập nước tại khu vực thị trấn Xuân Mai”, với mong muốn làm rõ mối liên hệ qua lại giữa quần xã chim và sinh cảnh sống của chúng, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc triển khai thực hiện quy hoạch khu đô thị vệ tinh Xuân Mai.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu chim hoang dã ở Việt Nam Giai đoạn trước năm 1975: Cuối thế kỷ 19, các nhà tự nhiên học nước ngoài đã có mặt ở Việt Nam, và bắt đầu các cuộc điều tra, nghiên cứu chim trên quy mô lớn. Năm 1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài được xuất bản đầu tiên với lô mẫu vật do Pierơ- Giám đốc vườn thú Sài Gòn bấy giờ sưu tầm và công bố (H. Năm 1931, Delacua và Jabuiơ đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim toàn vùng Đông Dương, bao gồm 954 loài và phân loài (Delacour T., 1931), trong đó có các loài chim ở Việt Nam.
Năm 1951, danh lục chim Đông Dương được Delacour bổ sung, hoàn thành và xuất bản gồm 1085 loài và phân loài (J. Delacour, 1951) Sau năm 1954, Miền Bắc giải phóng; đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu của các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà điểu học Việt Nam. Các công trình nghiên cứu đáng chú ý là của các tác giả: Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960, 1961), Đỗ Ngọc Quang (1965). Nói chung các công trình nghiên cứu này đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại, ít chú ý đến đặc điểm sinh thái học của loài.
Năm 1971, Võ Quý đã tổng hợp các nghiên cứu hơn 7 năm trước đó về đời sống của các loài chim phổ biến ở Miền Bắc Việt Nam để xuất bản công trình “Sinh học những loài chim thường gặp ở Miền Bắc Việt Nam” (Võ Quý, 1971). Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm sinh vật học của các loài chim có ý nghĩa kinh tế; tuy nhiên các thông tin về đặc điểm sinh thái học mới dừng lại ở cấp độ quần thể và loài. Giai đoạn sau năm 1975: Sau chiến tranh, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước; công trình “Chim Việt Nam- Hình thái và phân loại” là công trình đầu tiên nghiên cứu chim trên toàn lãnh thổ Việt Nam về mặt phân loại (Võ Quý, 1975, 1981) 3 Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử đã tổng hợp các kết quả điều tra trước đó để xuất bản công trình “Danh lục chim Việt Nam”. Bản danh lục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995; với mỗi loài các tác giả đã dẫn ra đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995).
Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm phân bố địa lý của loài; tuy nhiên các thông tin về đặc điểm sinh thái học cũng mới dừng lại ở cấp độ quần thể và loài. Năm 2000, Nguyễn Cử và các cộng sự dựa trên cuốn “Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc- 1994” đã biên soạn cuốn Chim Việt Nam. Trong sách các tác giả đã giới thiệu hơn 500 loài trong tổng số hơn 850 loài chim hiện có ở Việt Nam; mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố tình trạng, nơi ở và có hình vẽ màu kèm theo (Nguyễn Cử, 2000). Nói chung, cuốn sách được biên soạn với mục đích chủ yếu là giúp nhận dạng các loài chim ngoài thực địa.
Những năm gần đây, nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học với sự tài trợ của chính phủ nước ngoài (Hà Lan, Đức, Úc, Anh, Mỹ,.), của các tổ chức phi chính phủ (Birdlife, WWF, FFI, IUCN), ngân sách quốc gia, ngân sách địa phương đã đầu tư nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam, chủ yếu tập trung đầu tư nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; sau đó một loạt kết quả nghiên cứu về hệ động thực vật hoang dã tại các Vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được xuất bản. Điều tra nghiên cứu quần xã chim hoang dã thường được tiến hành song song với các nhóm động vật khác. Ban đầu là việc điều tra để lập luận chứng kinh tế- kỹ thuật thành lập khu bảo tồn, sau đó nhiều đợt điều tra nghiên cứu tiếp theo đã hoàn thiện được thành phần loài chim của khu bảo tồn. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên chim hoang dã, giúp ban quản lý có thông tin đầy đủ hơn về nguồn tài nguyên chim hoang dã trong khu vực mình quản lý.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới dừng lại ở thống kê, mô tả các loài chim, lập danh lục loài và 4 đánh giá giá trị bảo tồn của chúng; và thường các nghiên cứu này được đặt tên đề tài là: nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu về quần xã chim hoang dã ở Việt Nam được tiến hành ở các hệ sinh thái tự nhiên; không tìm thấy tài liệu nào nghiên cứu về quần xã chim hoang dã ở khu vực đô thị. Nghiên cứu về sinh thái học chim ở cấp độ quần xã (mối quan hệ giữa các loài chim trong quần xã, giữa quần xã chim với môi trường nơi cư trú) hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu. Lƣợc sử nghiên cứu chim hoang dã ở khu vực thị trấn Xuân Mai Nghiên cứu chim hoang dã ở thị trấn Xuân Mai được tiến hành gắn liền với hoạt động giảng dạy và học tập của giảng viên, sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp. Những năm 2010 trở về trước, có khá nhiều công trình điều tra nghiên cứu về các loài chim; tiêu biểu phải kể đến một số nghiên cứu như: chuyên đề tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim tại núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp” của Nguyễn Đăng Mạnh năm 2005, đã ghi nhận tại khu vực núi Luốt có 64 loài chim thuộc 30 họ và 10 bộ; ngoài ra chuyên đề còn mô tả quy luật phân bố của các loài chim theo sinh cảnh và đánh giá tình trạng quần thể thông qua mật độ của một số loài thường gặp (Nguyễn Đăng Mạnh, 2005).
Chuyên đề nghiên cứu khoa học “Tư liệu hóa thông tin đa dạng sinh học chim tại núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp” của Nguyễn Văn Đệ năm 2010, đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó cùng với kết quả điều tra thực địa đã lập danh sách các loài chim ở khu vực núi Luốt gồm 84 loài thuộc 32 họ và 10 bộ; đồng thời tiến hành xây dựng bảng tra các họ chim và các loài chim trong một số họ phổ biến (Nguyễn Văn Đệ và cộng sự, 2010). Sau năm 2010, các công trình điều tra nghiên cứu liên quan đến khu hệ chim tại núi Luốt là rất ít, đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim tại khu rừng thực nghiệm núi Luốt, Xuân Mai, Hà Nội” của Lương Văn Bình năm 2014, đã ghi nhận tại khu vực có 56 loài chim thuộc 27 5 họ và 9 họ; ngoài ra chuyên đề còn đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ chim, mô tả tình trạng phân bố của các loài chim theo sinh cảnh (Lương Văn Bình và cộng sự, 2014). Năm 2016, Nguyễn Quốc Hoàng đã nghiên cứu phản ứng của quần xã chim hoang dã với tính không đồng nhất của sinh cảnh tại khu vực thị trấn Xuân Mai. Đây là nghiên cứu đầu tiên tiếp cận ở cấp độ quần xã và triển khai trên toàn bộ khu vực Xuân Mai.
Tác giả đã thống kê được 72 loài chim thuộc 34 họ và 11 bộ; đã chỉ ra tính đa dạng sinh học chim cao hơn trong sinh cảnh dị chất; đồng thời phát hiện các loài chim trong cùng tập đoàn kiếm ăn thường là nhóm ăn tạp, hoặc có phương thức lấy mồi (chọn ăn, vận động khi chọn ăn) khác nhau để giảm thiểu áp lực cạnh tranh (Nguyễn Quốc Hoàng, 2016). Như vậy, định kỳ đều có các điều tra nghiên cứu chim hoang dã tại khu vực thị trấn Xuân Mai. Ngoại trừ nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hoàng; các điều tra nghiên cứu còn lại đều dừng lại ở điều tra, thống kê thành phần loài, và chỉ giới hạn trong quy mô khu vực núi Luốt- khu rừng thực nghiệm của Trường Đại học Lâm nghiệp. 6 Chƣơng 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI 2.