Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học chuyên ngành Luật Quốc tế của tác giả Đỗ Thị Thúy, hoàn thành năm 2021 tại Khoa Luật, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của Th.S Lê Thị Hồng Liễu, tập trung nghiên cứu đề tài: "Pháp luật Việt Nam về bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục. Lý luận và thực tiễn".

Lý do chọn đề tài xuất phát từ thực trạng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đang diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi, trở thành vấn đề nhức nhối mang tính toàn cầu. Hành vi xâm hại tình dục tước đoạt các quyền cơ bản của trẻ em, gây tổn hại nghiêm trọng, lâu dài đến thể chất, danh dự và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của nạn nhân. Ở cấp độ quốc tế, quyền trẻ em đã được xác lập trong Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người năm 1948 và Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (UNCRC) – văn kiện mà Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn vào ngày 20 tháng 02 năm 1990. Mặc dù Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế và từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quốc nội (như Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017), tình hình xâm hại tình dục trẻ em vẫn có chiều hướng gia tăng.

Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao (tháng 9/2019) được tác giả dẫn chứng, tội phạm xâm hại tình dục trẻ em chiếm tỷ lệ 89% số vụ và 84% số bị cáo trong tổng số các vụ án xâm phạm trẻ em nói chung. Trong hai năm 2018 và 2019, hệ thống Tòa án nhân dân các cấp đã đưa ra xét xử 2.555 vụ án với 2.685 bị cáo phạm tội xâm hại tình dục trẻ em; trong đó, tội danh giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi luôn chiếm đa số. Thực tế này đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu chuyên sâu, đối chiếu giữa lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thi hành.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích, đánh giá toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục, làm rõ các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành, chỉ ra những bất cập, vướng mắc, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật. Để hoàn thành mục đích này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đưa ra những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục, phân tích các nguyên nhân và làm rõ hậu quả của hành vi xâm hại tình dục trẻ em đối với kinh tế, xã hội và pháp lý.
  2. Phân tích các quy định pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục theo các điều ước quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam.
  3. Đánh giá thực trạng thực hiện và đề xuất các giải pháp, kiến nghị bảo đảm việc thực thi pháp luật về bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận và quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; đánh giá hiệu quả tác động của các quy định này trên thực tế.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm:

  • Về nội dung pháp lý: Các quy định trong Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; các văn kiện quốc tế gồm UNCRC năm 1989, hai Nghị định thư bổ sung năm 2000, Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948, Công ước ICCPR năm 1966, Công ước năm 1949 về trấn áp buôn bán người và bóc lột mại dâm; pháp luật hình sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Canada và Cộng hòa Liên bang Đức.
  • Về không gian và thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam thông qua các số liệu thống kê tư pháp, báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tập trung trong giai đoạn 2010 - 2019, cập nhật đến thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 11 năm 2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và quyền trẻ em, kết hợp với các học thuyết pháp lý chuyên ngành luật học:

  • Khung khái niệm và chuẩn mực pháp lý quốc tế: Khóa luận tiếp cận định nghĩa trẻ em và 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em theo Công ước UNCRC năm 1989 (Nhóm quyền sống còn - Điều 6; Nhóm quyền được bảo vệ - Điều 3, Điều 19, Điều 34; Nhóm quyền được phát triển - Điều 27; Nhóm quyền được tham gia - Điều 13). Tác giả khảo sát các khái niệm chuyên sâu về xâm hại tình dục trẻ em từ các tổ chức và học giả quốc tế: định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2006), Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), tài liệu của Australian Aid và Tầm nhìn Thế giới (World Vision, 2015), nghiên cứu của David Finkelhor (2009), Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần Hoa Kỳ (APA), Đạo luật CAPTA năm 2010 của Hoa Kỳ và Đạo luật POCSO năm 2012 của Ấn Độ.
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật quốc gia: Hệ thống Hiến pháp Việt Nam; các đạo luật chuyên ngành qua các thời kỳ gồm Pháp lệnh năm 1979, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em các năm 1991, 2004 và Luật Trẻ em năm 2016; các tội danh xâm phạm tình dục trẻ em tại Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS; Nghị định số 56/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng bao gồm:

  • Phương pháp quy nạp: Sử dụng chủ yếu trong Chương 1 để tổng hợp các góc độ tiếp cận (sinh học, tâm lý học, xã hội học, pháp lý) nhằm xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về trẻ em, quyền trẻ em và hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để làm rõ các nguyên nhân (chủ quan, khách quan), các dạng hậu quả đối với thể chất, tâm lý nạn nhân và trật tự xã hội (Chương 1); phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm và nghĩa vụ của các chủ thể pháp lý (Chương 2); luận giải thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện (Chương 3).
  • Phương pháp so sánh luật học: Được vận dụng ở Chương 2 để đối chiếu các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam với Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1979, sửa đổi bổ sung), Canada và Cộng hòa Liên bang Đức về đối tượng bảo vệ, dấu hiệu hành vi khách quan và khung chế tài xử phạt.
  • Phương pháp thống kê, xã hội học pháp lý: Thu thập, phân loại và xử lý các số liệu từ báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao (tháng 9/2019), số liệu của Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các kết quả khảo sát thực tế (nghiên cứu của Phạm Xuân Thông - Võ Văn Thắng năm 2010; Trung tâm Pháp lý của trẻ em) nhằm minh chứng cho tính cấp thiết và thực tiễn của đề tài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về khái niệm, quyền trẻ em, bản chất của hành vi xâm hại tình dục cùng nguyên nhân và hậu quả:

  • Khái niệm quyền trẻ em: Trẻ em được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh: sinh học (giai đoạn giữa sơ sinh và trưởng thành), xã hội học (chủ thể có vị thế cần sự bảo vệ đặc biệt), tâm lý học (giai đoạn hình thành nhân cách), và pháp lý (xác định theo độ tuổi). UNCRC quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ khi luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn. Ở Việt Nam, Pháp lệnh năm 1979 từng quy định độ tuổi từ mới sinh đến 15 tuổi; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, năm 2004 và Luật Trẻ em năm 2016 quy định thống nhất trẻ em là người dưới 16 tuổi. Tác giả phân tích cấu trúc 4 nhóm quyền cơ bản theo UNCRC: Quyền sống còn, Quyền được bảo vệ, Quyền được phát triển và Quyền được tham gia.
  • Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em: Dẫn chiếu khoản 8 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016 và Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP, làm rõ hành vi xâm hại tình dục trẻ em bao gồm việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi tình dục (hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô, sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm, mại dâm dưới mọi hình thức, kể cả khi có sự đồng thuận đối với trẻ dưới 13 tuổi).
  • Nguyên nhân của hành vi xâm hại tình dục trẻ em:
    • Nguyên nhân khách quan: Mặt trái kinh tế thị trường, sự du nhập của văn hóa phẩm bạo lực, khiêu dâm; công tác tuyên truyền, giáo dục kỹ năng phòng ngừa cho gia đình và cộng đồng còn hạn chế; hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe, cơ quan tiến hành tố tụng đôi lúc còn lúng túng trong định tội danh; văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng kịp thời thực tiễn.
    • Nguyên nhân chủ quan: Từ phía nạn nhân, đa số là phụ nữ và trẻ em gái dưới 13 tuổi hoặc trong độ tuổi dậy thì có thể lực yếu, chưa hoàn thiện nhận thức để tự vệ; hoàn cảnh gia đình thiếu sự quan tâm, buông lỏng quản lý, nghèo đói; sự thiếu hụt kiến thức giới tính của trẻ. Từ phía thủ phạm, chủ yếu là nam giới có lối sống thực dụng, lệch lạc về tình dục, bị tác động bởi phim ảnh khiêu dâm, coi thường pháp luật.
  • Hậu quả nghiêm trọng của hành vi xâm hại tình dục:
    • Về thể chất: Chảy máu nặng, rách âm đạo - trực tràng, tổn thương cơ quan sinh dục; lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục (HIV/AIDS, giang mai, sùi mào gà); mang thai ngoài ý muốn, nguy cơ vô sinh, thậm chí dẫn đến tử vong do bị bạo hành khi kháng cự.
    • Về tâm lý và hành vi: Nạn nhân bị hoảng loạn, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, sống mặc cảm, tự thu mình, suy giảm khả năng hòa nhập xã hội, phát sinh xu hướng tự tử hoặc lệ thuộc chất kích thích.

Bảng tổng hợp số liệu thực trạng và hậu quả xâm hại tình dục trẻ em được tác giả viện dẫn trong Chương 1:

Chỉ số / Tiêu chí Số liệu thực tế trong văn bản Nguồn số liệu
Số vụ và bị cáo bị xét xử (2018 - 2019) 2.555 vụ án / 2.685 bị cáo Báo cáo TAND tối cao (09/2019)
Tỷ lệ án xâm hại tình dục trong án xâm phạm trẻ em 89% số vụ / 84% số bị cáo Báo cáo TAND tối cao (09/2019)
Tỷ lệ nạn nhân bị tổn thương tinh thần và tương lai 84,3% Dữ liệu nghiên cứu xã hội
Tỷ lệ nạn nhân bị tổn thương sức khỏe thể chất 69,1% Dữ liệu nghiên cứu xã hội
Tỷ lệ nạn nhân dễ mặc cảm, phát triển không bình thường 65,7% Dữ liệu nghiên cứu xã hội
Tỷ lệ nạn nhân khó hòa nhập với xã hội 55,7% Dữ liệu nghiên cứu xã hội
Tỷ lệ trẻ em dưới 6 tuổi bị xâm hại tình dục 13,2% (trong số các vụ phát hiện) Trung tâm Pháp lý của trẻ em
Số trẻ em bị xâm hại trung bình mỗi năm 1.600 - 1.800 vụ (riêng XHTD chiếm đa số ở lứa tuổi 12-15) Báo cáo thống kê của Bộ Công an
Số trẻ em bị xâm hại trung bình mỗi ngày tại Việt Nam Khoảng 07 trẻ em Thống kê Bộ LĐ-TB&XH
Số trẻ em bị xâm hại phát hiện mỗi năm Khoảng 2.000 trẻ em (hành vi xâm hại chiếm 60%) Thống kê Bộ LĐ-TB&XH
Hậu quả bạo lực nghiêm trọng trung bình mỗi năm 38 trẻ bị giết hại, 133 trẻ bị thương tích, 84 trẻ mang thai Thống kê Bộ LĐ-TB&XH

Chương 2: Quy định pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục

Chương 2 phân tích chuyên sâu các tầng nấc pháp lý từ quốc tế, so sánh lập pháp nước ngoài đến hệ thống luật pháp thực định Việt Nam:

  • Quy định quốc tế: Phân tích Điều 34 UNCRC năm 1989 về cam kết quốc gia phòng chống bóc lột và lạm dụng tình dục trẻ em; Nghị định thư bổ sung năm 2000 về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (yêu cầu hình sự hóa và quy định cơ chế dẫn độ tội phạm); Công ước năm 1949 về trấn áp buôn bán người và bóc lột mại dâm; Công ước ICCPR năm 1966.
  • So sánh pháp luật hình sự quốc tế: Tác giả phân tích mô hình pháp luật của 3 quốc gia tiêu biểu:
    • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Điều 236 BLHS quy định hành vi giao cấu với trẻ em gái dưới 14 tuổi coi như phạm tội hiếp dâm (phạt tù từ 3 đến 10 năm; nếu có tình tiết tăng nặng như nơi công cộng, nhiều người luân phiên, gây chết người thì phạt từ 10 năm, chung thân hoặc tử hình); Điều 237 quy định về tội loạn luân với trẻ em. Khác biệt lớn: BLHS Trung Quốc chỉ bảo vệ trẻ em gái, chưa bảo vệ trẻ em nam như pháp luật Việt Nam.
    • Canada: Điều 151 (tội xâm phạm tình dục - tiếp xúc trực tiếp/gián tiếp lên người dưới 16 tuổi) và Điều 152 (tội mời chào, lôi kéo tiếp xúc tình dục đối với người dưới 16 tuổi). Khung hình phạt từ 14 ngày đến 10 năm tù; đối tượng bảo vệ bao gồm cả trẻ em trai và gái.
    • Cộng hòa Liên bang Đức: BLHS Đức quy định tại Chương 13 về các tội xâm phạm quyền tự quyết tình dục. Điều 176 (hành vi tình dục với người dưới 14 tuổi, phạt từ 6 tháng đến 10 năm tù), Điều 176a (lạm dụng tình dục nghiêm trọng, tái phạm trong 5 năm phạt tù không dưới 1 năm), Điều 176b (lạm dụng gây hậu quả chết người, phạt tù không dưới 10 năm), Điều 180 (hỗ trợ hành vi tình dục của người dưới 16 tuổi), Điều 184 (phát tán văn hóa phẩm khiêu dâm cho người dưới 18 tuổi).

Bảng đối chiếu quy định pháp luật hình sự một số quốc gia về bảo vệ trẻ em trước xâm hại tình dục:

Quốc gia Độ tuổi nạn nhân được bảo vệ Giới tính nạn nhân Hành vi khách quan điển hình Chế tài xử phạt
Việt Nam Dưới 13 tuổi và từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi Cả nam và nữ Hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu/QHTD khác, dâm ô, sử dụng vào mục đích khiêu dâm Từ 06 tháng tù đến 20 năm tù, chung thân, tử hình; cấm hành nghề 1-5 năm
Trung Quốc Trẻ em gái chưa đủ 14 tuổi Chỉ trẻ em gái (nữ) Giao cấu với trẻ em gái, cưỡng dâm, loạn luân với trẻ em Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm; tăng nặng: từ 10 năm, chung thân hoặc tử hình
Canada Dưới 16 tuổi Cả nam và nữ Xâm phạm tình dục (tiếp xúc cơ thể/qua vật); mời chào, lôi kéo tiếp xúc tình dục Phạt tù thấp nhất 14 ngày, cao nhất 10 năm tù
CHLB Đức Dưới 14 tuổi (và hỗ trợ QHTD dưới 16 tuổi) Cả nam và nữ Lạm dụng tình dục, thúc đẩy/hỗ trợ hành vi tình dục, phát tán ấn phẩm khiêu dâm Phạt tù từ 06 tháng đến 10 năm; tái phạm từ 01 năm; làm chết người không dưới 10 năm
  • Nội dung pháp luật Việt Nam:
    • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Quy định tại Chương XIV, thay thế thuật ngữ chung bằng việc liệt kê nhóm tuổi cụ thể để bảo vệ tuyệt đối: Điều 142 (Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi: quy định mọi hành vi giao cấu/QHTD khác với người dưới 13 tuổi đều cấu thành tội hiếp dâm mà không cần dấu hiệu dùng vũ lực, nạn nhân dưới 10 tuổi áp dụng khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình); Điều 144 (Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: phạt từ 5 năm đến chung thân); Điều 145 (Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: xử lý hình sự ngay cả khi có sự đồng thuận, mức phạt từ 1 đến 15 năm tù); Điều 146 (Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi: phạt từ 6 tháng đến 12 năm tù); Điều 147 (Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm: phạt từ 6 tháng đến 12 năm tù, mục đích thương mại phạt từ 3 đến 7 năm tù). Hình phạt bổ sung theo Điều 41 quy định cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 1 đến 5 năm.
    • Luật Trẻ em năm 2016: Khoản 3 Điều 6 nghiêm cấm hành vi xâm hại tình dục; Điều 25 ghi nhận quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục. Thiết lập mô hình 3 cấp độ bảo vệ trẻ em: Cấp độ phòng ngừa (Điều 48 - áp dụng cho cộng đồng, gia đình, trang bị kỹ năng); Cấp độ hỗ trợ (Điều 49 - áp dụng cho trẻ có nguy cơ); Cấp độ can thiệp (Điều 50 - áp dụng cho trẻ đã bị xâm hại, hỗ trợ y tế, tâm lý, phục hồi). Chi tiết hóa tại Nghị định số 56/2017/NĐ-CP (từ Điều 27 đến Điều 32).
    • Trách nhiệm thực hiện pháp luật: Quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, cha mẹ và gia đình (Điều 18 UNCRC, Điều 26 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004). Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước theo Luật Trẻ em năm 2016: Tòa án nhân dân các cấp (Điều 81 - bảo đảm xét xử vì lợi ích tốt nhất của trẻ); Viện kiểm sát nhân dân các cấp (Điều 81 - thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp); Cơ quan Công an (khoản 1 Điều 88 - chủ trì phối hợp phòng ngừa, ngăn chặn, điều tra tội phạm); trách nhiệm của ngành Y tế (tác giả liên hệ với kinh nghiệm triển khai Đạo luật POCSO năm 2012 của Ấn Độ trong việc bắt buộc báo cáo lâm sàng và can thiệp y tế tức thời cho nạn nhân).

Chương 3: Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục và một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện

Căn cứ vào bố cục và các nội dung phân tích trong khóa luận, Chương 3 phản ánh hai nội dung trọng tâm:

  • Thực trạng thực hiện quy định pháp luật: Phân tích thực trạng thi hành và áp dụng pháp luật trong việc xử lý các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em. Tác giả chỉ ra các rào cản trong thực tiễn như sự thiếu đồng bộ của văn bản hướng dẫn dưới luật, khó khăn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi dâm ô hoặc hành vi quan hệ tình dục khác, sự lúng túng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định danh tội danh (đặc biệt giữa tội dâm ô và các hành vi mang tính chất khiêu dâm, quấy rối). Nhiều trường hợp chế tài xử phạt chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; việc chậm trễ trong giám định pháp y, tâm thần gây ảnh hưởng đến tiến độ khởi tố, truy tố và xét xử.
  • Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:
    • Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật: Tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự; ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất tội danh xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi; nâng cao tính răn đe của các khung hình phạt và quy định chặt chẽ các biện pháp tư pháp thân thiện đối với người bị hại là trẻ em.
    • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Đẩy mạnh cơ chế phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Y tế và Lao động - Thương binh và Xã hội; nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán khi giải quyết các vụ án trẻ em bị xâm hại; tăng cường hiệu quả vận hành của 3 cấp độ bảo vệ trẻ em (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) theo Luật Trẻ em năm 2016.
    • Đề xuất xã hội: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, giáo dục giới tính và kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho học sinh tại nhà trường; nâng cao nhận thức và trách nhiệm giám sát của gia đình, cộng đồng; thiết lập và mở rộng các trung tâm can thiệp, trị liệu tâm lý, y tế hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập cuộc sống.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã đạt được các nội dung cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận và số liệu thực tiễn về xâm hại tình dục trẻ em tại Việt Nam: Dẫn chứng số liệu xét xử 2.555 vụ án và 2.685 bị cáo trong hai năm 2018 - 2019 của TAND tối cao; chỉ rõ tỷ lệ tội phạm XHTDTE chiếm tới 89% số vụ xâm hại trẻ em; phân tích số liệu trung bình mỗi năm có từ 1.600 đến 1.800 vụ việc theo Bộ Công an, trong đó trẻ dưới 6 tuổi chiếm 13,2%; đưa ra các tỷ lệ tổn thương thể chất (69,1%) và tinh thần (84,3%) mà nạn nhân phải gánh chịu.
  • Phân tích cặn kẽ khung pháp lý thực định: Làm rõ cơ chế phân hóa độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và bảo vệ tuyệt đối nạn nhân theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với 5 tội danh nòng cốt (Điều 142 đến Điều 147); phân tích cơ chế bảo vệ 3 cấp độ (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) theo Luật Trẻ em năm 2016 và Nghị định số 56/2017/NĐ-CP.

Đóng góp của tác giả so với các nghiên cứu trước đây:

  • Đặt vấn đề nghiên cứu dưới lăng kính kép của Luật Quốc tế và Luật Hình sự Việt Nam: Không chỉ giới hạn trong việc phân tích tội danh đơn thuần, khóa luận đánh giá mức độ tương thích và nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế từ UNCRC năm 1989 và hai Nghị định thư bổ sung năm 2000 vào pháp luật Việt Nam.
  • Đóng góp so sánh lập pháp quốc tế có chiều sâu: Việc so sánh với BLHS Trung Quốc, Canada, CHLB Đức và Đạo luật POCSO năm 2012 của Ấn Độ đã giúp tác giả chỉ ra điểm tiến bộ vượt bậc của BLHS Việt Nam năm 2015 (bảo vệ quyền an toàn tình dục của trẻ em không phân biệt giới tính nam hay nữ, trong khi Điều 236 và 237 BLHS Trung Quốc chỉ bảo vệ trẻ em gái), đồng thời gợi mở kinh nghiệm quốc tế về quy định trách nhiệm báo cáo bắt buộc của cán bộ y tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế nhất định dựa trên phạm vi nghiên cứu của tác giả:

  • Hạn chế: Khóa luận chủ yếu tiếp cận dưới góc độ luật thực định và phân tích văn bản quy phạm pháp luật; nguồn số liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên các báo cáo thống kê vĩ mô cấp trung ương giai đoạn 2018 - 2019 mà chưa khảo sát thực tế hồ sơ xét xử án hình sự cụ thể tại các địa phương đặc thù (như các nghiên cứu khảo sát riêng tại Hà Nội, Bình Dương hay Tây Nam Bộ). Các giải pháp xã hội về hỗ trợ tâm lý chưa được đi sâu phân tích dưới góc độ quy trình kỹ thuật tâm thần học lâm sàng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP trong việc tháo gỡ vướng mắc định tội danh dâm ô và giao cấu; nghiên cứu chuyên sâu về xây dựng mô hình thủ tục tố tụng tư pháp thân thiện dành riêng cho người chưa thành niên là nạn nhân của tội phạm xâm hại tình dục; nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại và trị liệu tâm lý bắt buộc đối với người bị xâm hại tình dục.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thúy là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên chuyên ngành Luật học, Luật Quốc tế, Luật Hình sự; học viên cao học, nghiên cứu sinh nghiên cứu về quyền trẻ em, tội phạm học và tư pháp hình sự người chưa thành niên; cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em tại các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cán bộ tư pháp (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán).
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Bảng đối chiếu và phân tích so sánh luật hình sự giữa Việt Nam, Trung Quốc, Canada và Đức tại Chương 2.
    • Hệ thống hóa lý luận về 4 nhóm quyền trẻ em và 3 cấp độ bảo vệ trẻ em theo Luật Trẻ em năm 2016.
    • Phần phân tích chi tiết cấu thành pháp lý của các điều luật từ Điều 142 đến Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) gắn với các hướng dẫn của Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành có điểm gì khác biệt so với Công ước UNCRC năm 1989?
Công ước UNCRC năm 1989 tại Điều 1 định nghĩa trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ đã có sự điều chỉnh: Pháp lệnh năm 1979 quy định trẻ em là từ mới sinh đến 15 tuổi; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, năm 2004 và hiện nay là Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: "Trẻ em là người dưới 16 tuổi". Quy định này của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với điều khoản mở của Công ước quốc tế.

2. Điểm tiến bộ của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 so với Bộ luật Hình sự Trung Quốc về đối tượng bảo vệ trước tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là gì?
Theo phân tích của tác giả, Điều 236 và Điều 237 BLHS Trung Quốc mô tả đối tượng tác động của hành vi phạm tội chỉ là "trẻ em gái chưa đủ 14 tuổi", tức chỉ bảo vệ trẻ em là nữ giới. Trong khi đó, BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định đối tượng bảo vệ là "người dưới 16 tuổi" hoặc "người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi" mà không phân biệt giới tính nạn nhân là nam hay nữ, bảo đảm sự công bằng và bao quát toàn diện hơn trước thực tiễn xâm hại tình dục trẻ em.

3. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao được tác giả viện dẫn, tình hình xét xử tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong hai năm 2018 - 2019 diễn biến như thế nào?
Theo Báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao tháng 9/2019, trong hai năm 2018 và 2019, Tòa án nhân dân các cấp đã đưa ra xét xử 2.555 vụ án với 2.685 bị cáo phạm tội xâm hại tình dục trẻ em. Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em chiếm tỷ lệ áp đảo với 89% số vụ và 84% số bị cáo trong tổng số các tội phạm xâm hại trẻ em nói chung; tội danh phổ biến nhất là giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

4. Ba cấp độ bảo vệ trẻ em được quy định trong Luật Trẻ em năm 2016 bao gồm những cấp độ nào và nội dung chính của từng cấp độ là gì?
Theo Điều 47 Luật Trẻ em năm 2016, 3 cấp độ bảo vệ trẻ em bao gồm:

  • Cấp độ phòng ngừa (Điều 48): Áp dụng đối với cộng đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em, giảm thiểu nguy cơ bị xâm hại.
  • Cấp độ hỗ trợ (Điều 49): Áp dụng đối với trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại.
  • Cấp độ can thiệp (Điều 50): Áp dụng đối với trẻ em và gia đình trẻ em đã bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi, cung cấp hỗ trợ chăm sóc y tế, trị liệu tâm lý, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.

5. Đối với hành vi giao cấu với người dưới 13 tuổi, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 quy định xử lý tội danh nào và mức hình phạt cao nhất là bao nhiêu?
Theo Điều 142 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đối với nạn nhân dưới 13 tuổi, trong mọi trường hợp, người thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác (dù có hay không có hành vi dùng vũ lực, dù nạn nhân có đồng thuận hay không) đều bị xử lý về "Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi". Nếu nạn nhân là trẻ em dưới 10 tuổi, người phạm tội sẽ bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng cao nhất của điều luật là phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thúy là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có cấu trúc chặt chẽ và hàm lượng khoa học pháp lý rõ ràng về đề tài bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục. Tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc phân tích lý luận quyền trẻ em theo các chuẩn mực quốc tế với đánh giá thực trạng quy định pháp luật hình sự và Luật Trẻ em Việt Nam hiện hành. Các số liệu tư pháp xác thực cùng việc đối chiếu lập pháp so sánh với các quốc gia như Trung Quốc, Canada, Đức đã làm nổi bật các điểm tiến bộ cũng như những khoảng trống pháp lý cần hoàn thiện. Bản khóa luận đóng góp nguồn tư liệu tham khảo giá trị cho công tác nghiên cứu lý luận, lập pháp và áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ tốt nhất quyền an toàn của trẻ em trong giai đoạn hiện nay.