Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục. Chương 2: Quy định pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục. Chương 3: Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo về trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục và một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ TRẺ EM TRƯỚC VẤN NẠN XÂM HẠI TÌNH DỤC 1.
Khái quát chung về bảo vệ quyền trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục 1. Khái niệm quyền trẻ em Trẻ em là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, trí tuệ còn non nớt, thơ dại, nhỏ bé và yếu đuối, chưa thể nhận biết những rủi ro cũng như chưa thể tự kiếm sống nên cần dựa vào cha mẹ và những người thân trong gia đình để được bảo vệ. Tương lai, trách nhiệm sau này các em sẽ là trụ cột và làm chủ gia đình, đất nước. Do vậy, việc bảo vệ trẻ em là điều vô cùng cần thiết và quan trọng.
Trong thực tế có rất nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau khi xem xét giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em. Khái niệm trẻ em ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ là không giống nhau, do ảnh hưởng từ các yếu tố địa lý, văn hóa, thể chế nhà nước, hệ thống pháp luật khác nhau. Trên thực tế thường sử dụng cụm từ “trẻ em”, “trẻ thơ”, “trẻ con” để chỉ những độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của con người. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kì ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành; với chuyên ngành xã hội học, trẻ em được định nghĩa là người có vị thế, có vai trò trong xã hội khác với người lớn, vì vậy cần được xã hội quan tâm, bảo vệ tạo điều kiện sinh trưởng phát triển bình thường về tâm sinh lý.
Hay trong tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách của con người. Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em được tiếp cận theo độ tuổi, điều này có nghĩa là một cá nhân có thể coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào độ tuổi của người đó tại thời điểm nhất định. Việc tìm hiểu tất cả những khái niệm liên quan đến trẻ em cả về mặt pháp lý lẫn sinh học như sự thay đổi về cơ thể ở độ tuổi dậy thì hay các giai đoạn phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng để có thể tạo ra cơ chế bảo vệ trẻ em. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em 1989 “Trẻ em có nghĩa là bất kì người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em 9 đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”4.
Theo quy định của công ước, có thể hiểu rằng, định nghĩa về trẻ cần căn cứ vào độ tuổi và cũng tùy thuộc vào pháp luật từng quốc gia quy định, hay nói cách khác đây là một điều luật mở cho các quốc gia thành viên. Theo đó, các quốc gia thành viên có thể quy định quyền trẻ em được bắt đầu ngay khi mang thai hay sau khi ra đời, để từ đó quy định về các quyền trẻ em theo quy định của UNCRC. Song, các tổ chức của Liên Hợp Quốc và quốc tế như UNICEF, UNPA, ILO, UNESSCO,. đều xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi.
Bên cạnh đó, theo Luật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người chưa thành niên năm 2006, quy định “Trẻ vị thành niên có nghĩa là công dân dưới mười tám tuổi”5. Trẻ vị thành niên hay còn gọi là trẻ em phải được hưởng các quyền được sống, quyền phát triển, quyền được bảo vệ và tham gia. Nhà nước phải bảo vệ đặc biệt và ưu đãi theo các đặc điểm của sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ cũng như đảm bảo quyền bất khả xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của trẻ theo cách đặc biệt nhất. Quyền trẻ em được quy định trong Hiến pháp 1946 “Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ.
Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng”6; Hiến pháp 1959 quy định tại Điều 24 “Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ”; Hiến pháp 1980 quy định tại Điều 65 “Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ em được bảo đảm”; Hiến pháp 1992 quy định tại Điều 65 “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”, và được quy định tại điều 20 và Điều 37 Hiến pháp hiện hành 2013, khoản 1 Điều 20 hiến pháp quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra 4 Điều 1 Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về Công ước quyền trẻ em. 5 Điều 2 sắc lệnh số 60 ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người chưa thành niên. 6 Xem điều 14, Hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 1946. 10 tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”, tại khoản 1 điều 37 quy định “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em.
Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Ở Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi của trẻ em đã chính thức được đề cập trong một văn bản pháp quy sau khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh vệ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11 năm 19797, quy định tại Điều 1 “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi”. Đến năm 1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành đã nâng độ tuổi trẻ em lên đến dưới 16 tuổi, cụ thể được quy định “Trẻ em trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”8. Và đến nay độ tuổi đó vẫn không thay đổi, cụ thể trong Luật Trẻ em 2016 quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”9.
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở Châu Á tham gia kí UNCRC, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi. Mặc dù quy định độ tuổi thấp hơn so với Công ước quốc tế nhưng quy định của Việt Nam vẫn được coi là phù hợp với quy định mở của Công ước. Bên cạnh văn bản luật chuyên ngành, trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới vấn đề trẻ em như Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) là từ đủ 14 tuổi trở lên, độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi đã phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng 10; Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định độ tuổi của người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi11; Bộ luật Lao động năm 2019 quy định độ tuổi người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở 7 Uỷ ban thường vụ Quôc hội năm 1979, Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. 8 Điều 1, Luật bảo vệ trẻ em, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 2004.
9 Điều 1, Luật trẻ em 2016. 10 Theo khoản 2, Điều 12 Bộ luật dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. 11 Theo khoản 1, Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015. 11 lên12; Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi13,.
Tuy nhiên trong mỗi ngành luật đều tiếp cận khái niệm trẻ em ở mỗi khía cạnh khác nhau. Bên cạnh đó, pháp luật của một số nước cũng quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thấp như Nepal, Anh, Ukraina là 10 tuổi; Hàn Quốc, Uganda là 12 tuổi, ở Trung Quốc, trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi được xử lý bằng hệ thống tư pháp vị thành niên và có thể bị kết án tù chung thân trong hệ thống Tòa hình sự14. Mặc dù mỗi nước có cách tiếp cận khác nhau về giới hạn độ tuổi chịu TNHS, song đều giống nhau ở chỗ chỉ rõ giới hạn thấp nhất mà một người khi thực hiện tội phạm phải chịu TNHS. Các nước đều coi đây là cơ sở pháp lý quan trọng để truy cứu TNHS người phạm tội.
Nhìn chung, hầu hết các nước có quy định độ tuổi bắt đầu chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi trở lên và Việt Nam cũng là một trong số đó. Về mặt luật pháp, đối với vấn đề phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em, thể hiện ở việc phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em, phê chuẩn nghị định thư không bắt buộc về buôn bán, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em vào năm 2000. Điều đó thể hiện sự nhất quán trong quy định của pháp luật Việt Nam trong việc phòng chống xâm hại tình dục ở trẻ em. Dưới góc độ pháp lý, quyền được hiểu là những quy định mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản hay hạn chế.
Quyền trẻ em được hiểu là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ em được hưởng quyền và gánh vác những nghĩa vụ khác nhau. Là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn. Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 là Công ước đầu tiên quy định trực tiếp về các quyền cơ bản của trẻ em và được coi là những “Nguyên tắc chung” để thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em.