Chương 1: Khái quát chung về chỉ dẫn địa lý - Chương 2: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý - Chương 3: Định hướng và một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý Với những mục đích, nhiệm vụ được đặt ra và giải quyết trong ba chương của đề tài bằng những phương pháp khoa học, tác giả mong rằng đề tài có thể góp phần làm sáng tỏ hơn đối với cơ sở lý luận về bảo hộ chỉ dẫn địa lý và những kiến nghị có thể góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đối với vấn đề này. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 1.1 LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Trên thế giới, quyền sở hữu trí tuệ đã có lịch sử phát triển từ rất lâu đời. Thời gian đầu, cơ bản đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: patents (sáng chế), quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hoá và các lợi ích liên quan. Theo cách hiểu phổ biến nhất, quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp.
Như tại Mỹ, luật patents đã có từ năm 1641, khi đó bằng sáng chế đầu tiên cho phát minh sản xuất muối đã được bảo hộ tại Vịnh thuộc địa Massachusetts, hay tại Anh năm 1662 đã có luật Patent [22]. Đối với quyền tác giả, năm 1710 Nghị viện Anh đã thông qua đạo luật Anne - được xem như luật về quyền tác giả đầu tiên trên thế giới; còn tại Mỹ, Quốc Hội đã thông qua đạo luật về quyền tác giả đầu tiên vào năm 1790 [24]. Đối với thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý”, hiểu theo nghĩa rộng chính là miêu tả sự gắn kết bởi những đặc điểm của hàng hoá với nguồn gốc địa lý. Các yếu tố của sản phẩm, yếu tố chất lượng, danh tiếng hay những đặc tính khác tạo nên sự riêng biệt của hàng hóa về cơ bản là từ nguồn gốc địa lý của hàng hoá ấy tạo nên.
Chỉ dẫn địa lý, ngay từ những ngày đầu tiên của hoạt động giao dịch thương mại vấn đề này đã được đề cập đến dưới những tên gọi của một địa danh cụ thể nơi mà hàng hoá được sản xuất, chẳng hạn như: rượu vang Bordeaux hay Burgundy, phó mát Parmesan,… [2, 10]. Đối với người tiêu dùng thì tên gọi địa lý bản thân nó đã giúp nhận thấy được một cách dễ dàng rằng hàng hoá, sản phẩm ấy đã đến (có xuất xứ) từ địa phương hay khu vực có tên gọi đó. Vấn đề liên quan đến thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” đã được pháp luật quốc tế điều chỉnh tại Công ước Paris ngày 20/3/1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Theo đó, các đối tượng chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hoá lần đầu tiên được điều chỉnh trong pháp luật quốc tế với tư cách như những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, riêng đối với chỉ dẫn nguồn gốc còn được quy định chi tiết hơn tại điều 10 và 10ter của Công ước này.
10 Tiếp theo đó, tại Hiệp định Madrid ngày 14/8/1891 về ngăn chặn những chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hoá giả mạo hay gây sự nhầm lẫn đã được thông qua, quy định những hàng hoá có dấu hiệu như trên sẽ bị giữ lại khi làm thủ tục nhập khẩu và xử lý như đối với hành vi vi phạm. Đến Hiệp định Lisbon ngày 31/10/1958 về bảo hộ đối với tên gọi xuất xứ và đăng ký quốc tế về xuất xứ, trong đó điều 2 đã đưa ra khái niệm đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá và đồng thời quy định mở rộng hơn phạm vi của sự bảo hộ đối với những hàng hoá đã được đăng ký quốc tế về tên gọi xuất xứ so với sự bảo hộ đối với chỉ dẫn nguồn gốc theo như quy định tại Công ước Paris và Hiệp định Madrid về chỉ dẫn nguồn gốc. Tại điều 3 của Hiệp định này quy định không chỉ bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá bằng việc nghiêm cấm đối với những hành vi chỉ dẫn nhằm dẫn đến sự nhầm lẫn cho người sử dụng mà còn áp dụng đối với cả bất kỳ sự chiếm đoạt hay bắt chước đối với sản phẩm được bảo hộ. Nội dung này được áp dụng đối với cả trường hợp cho dù nguồn gốc thật của sản phẩm ấy có được biểu thị, hoặc tên gọi xuất xứ được dùng dưới dạng đã có sự biên dịch, hoặc sử dụng cùng với các từ như “phương pháp”, “kiểu”, “loại”, “phỏng theo” hoặc các từ ngữ tương tự.
Theo truyền thống, tên gọi địa lý được cả người tiêu dùng và nhà kinh doanh nhìn nhận cơ bản gồm hai loại: nguồn xuất xứ của sản phẩm (ví dụ như: Sản xuất tại Việt Nam, Sản phẩm của Hoa Kỳ,.) và tên gọi xuất xứ đặc trưng của hàng hoá (ví dụ như: rượu vang Bordeaux, chè Darjeeling,. Khoảng hai mươi năm trở lại đây, sự bảo hộ chỉ dẫn về nguồn ở hầu hết các quốc gia thể hiện dưới phạm vi hẹp, cụ thể chỉ nhìn nhận và bảo hộ về tên gọi xuất xứ hàng hoá. Việc các quốc gia muốn tên gọi xuất xứ hàng hoá của mình được thừa nhận và bảo hộ trên phạm vi toàn cầu trở nên rất khó khăn, bởi lẽ thực tế vẫn chưa có một sự gắn kết trong cách hiểu và biện pháp bảo hộ thống nhất cho chỉ dẫn về nguồn khi mà chỉ mới có mười bảy nước thành viên cho Hiệp định Lisbon [2, 12]. Trong lĩnh vực này, ngay từ những ngày đầu, rượu vang và rượu mạnh đã là những sản phẩm có nhu cầu đặc biệt cần được bảo hộ.
Tổ chức IWO là một tổ chức liên chính phủ đại diện cho ngành sản xuất công nghiệp rượu, được trao cho rất nhiều các nhiệm vụ giải quyết các vấn đề liên quan đến chỉ dẫn xuất xứ và kiểu dáng của rượu vang và rượu mạnh. Tổ chức này đã tiến hành soạn thảo và đưa ra các đề xuất giải pháp và nghị quyết về định nghĩa của tên gọi xuất xứ kể từ năm 1924. Trong Nghị quyết ECO 2/92 đã chỉ ra sự khác biệt trong cách nhìn nhận giữa tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý. Tại Cộng đồng chung Châu Âu, tương tự như vậy việc sử dụng tên gọi địa lý cho những sản phẩm cần được đặt 11 trong mối quan hệ lợi ích của các quốc gia trong Cộng đồng, một số các văn bản luật đã được ban hành điều chỉnh trực tiếp đối với vấn đề này, cụ thể như: Quy định số 817/70, 338/79 và 823/87 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu về tiêu chuẩn pháp lý cho chất lượng của rượu được sản xuất ở những vùng địa lý đặc biệt; Quy định số 2133/74, 335/79 và 2392/89 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu về việc sử dụng tên gọi địa lý của rượu; và Quy định 1576/89 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu liệt kê danh sách những tên gọi địa lý được cho phép của rượu mạnh.
Đặc biệt cần phải kể đến Quy định số 2081/92 của Cộng đồng kinh tế Châu Âu, từ khi ra đời đã trở thành văn bản chủ đạo điều chỉnh trong vấn đề này, tại điều 2 của Quy định đã xác định vấn đề bảo hộ đối với thiết kế về nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý. Năm 1967, Tổ chức WIPO đã liên kết hoạt động của một số các tổ chức quốc tế, đặc biệt là giữa Hiệp hội Paris (được thành lập năm 1883 nhằm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp) và Hiệp hội Bern (hình thành năm 1886 nhằm bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật). Năm 1974, Tổ chức này đã đưa ra bản thảo cho một hiệp định quốc tế đa phương về vấn đề bảo hộ tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn về nguồn của hàng hoá, trong bản thảo này có nhiều quy định với mục đích xem xét lại đối với nội dung của Công ước Paris. Sau đó, hàng loạt các hội nghị chuyên đề đối với vấn đề bảo hộ quốc tế về chỉ dẫn địa lý được tổ chức, rất nhiều các vấn đề xung đột, vướng mắc đã được đặt ra và giải quyết, điều ấy đã tạo nên một không khí mới mẻ và cách nhìn khác biết trong vấn đề này.
Đến năm 1978, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được bàn tới trong chương trình nghị sự của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1948 (GATT) tại vòng đàm phán về luật chống hàng giả ở Tokyo. Tuy vậy, phải đến vòng đàm phán Uruguay của GATT, ý tưởng đó mới thực sự trở thành hiện thực, kết quả là Hiệp định TRIPs được ký kết ngày 15/04/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 (cùng với sự ra đời của Tổ chức WTO. Ngày 01/01/1996, Hội đồng TRIPs đã ký với Tổ chức WIPO, một thoả thuận nhằm đẩy mạnh việc thực hiện Hiệp định TRIPS với mục tiêu là: thúc đẩy việc bảo hộ, thực thi thỏa đáng và hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; giảm sự sai lệch và các rào cản trong thương mại quốc tế. Hiệp định TRIPS đã khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực, quy định của Công ước Paris và Công ước Berne, quy định các tiêu chuẩn tối thiểu việc bảo hộ nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ khác nhau, bao gồm: sáng chế, bí quyết kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, chỉ dẫn 12 địa lý, bản quyền tác giả và các quyền liên quan.
Ngoài việc đồng nhất hóa về pháp luật, Hiệp định còn tiến tới loại bỏ các quy định về hành chính, thủ tục và về kỹ thuật bất lợi cho hoạt động sở hữu trí tuệ quốc tế. Hiệp định quy định nguyên tắc cơ bản về đối xử quốc gia (điều 3) và chế độ đối xử tối huệ quốc (điều 4) mà các quốc gia phải tuân thủ và cần ghi nhớ khi đưa các nội dung trong Hiệp định vào pháp luật trong nước. Đặc biệt tại Phần 3 của Hiệp định này chứa đựng ba điều luật thật sự rất quan trọng điều chỉnh cụ thể đối với đối tượng chỉ dẫn địa lý, cụ thể: - Điều 22 về bảo hộ chỉ dẫn địa lý; - Điều 23 về bảo hộ bổ sung đối với các chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang và rượu mạnh; và - Điều 24 về đàm phán quốc tế và ngoại lệ. Chính các quy định này đã làm thay đổi cách nhìn về đối tượng chỉ dẫn địa lý, một số vấn đề của chỉ dẫn địa lý đã được xem xét lại vào năm 1998 - 1999 bởi Ủy ban thường trực về pháp luật nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý (từ đây được viết tắt là SCT) của Tổ chức WIPO.