Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự. Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự. Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN THƢƠNG MẠI BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp 1.
Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp Ngày nay, khoa học, kĩ thuật, công nghệ đã trở thành một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất có tính chất quyết định đến năng suất lao động. Theo đó, quan hệ sở hữu phát triển lên một đỉnh cao mới, dẫn đến sự ra đời của một quan hệ sở hữu đặc biệt là Sở hữu trí tuệ (SHTT). Nếu như quyền sở hữu tài sản bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ sở hữu thì quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) có nội hàm rộng hơn, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền đối với giống cây trồng và quyền sở hữu công nghiệp. Theo Luật Sở hữu trí tuệ thì QSHTT được định nghĩa như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” [18, Điều 4] Theo pháp luật Việt Nam, QSHTT là chế định trong luật dân sự, là lĩnh vực thuộc quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các yếu tố cấu thành bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung.
QSHTT là một phạm trù pháp lý trong quyền sở hữu nói chung. Do vậy, giống như các quyền dân sự khác, QSHTT cũng bao gồm các nhóm quy phạm liên quan đến các hình thức sở hữu, căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu, cách thức, biện pháp chuyển quyền sở hữu và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu. Đối với quyền sở hữu thông thường, chủ sở hữu có đủ ba quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Trong khi đó, QSHTT không quy định gì về quyền chiếm hữu.
Điều này phát 7 z sinh từ đặc tính vô hình của các đối tượng SHTT. Vì vậy, quyền năng quan trọng nhất của QSHTT là quyền sử dụng các đối tượng SHTT. Trong QSHTT thì QSHCN là quyền sở hữu các tác phẩm sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại. Hiểu theo nghĩa khách quan, QSHCN là pháp luật về SHCN hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ và được pháp luật coi là các đối tượng SHCN.
Hiểu theo nghĩa chủ quan thì QSHCN là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng SHCN. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã tập hợp và đưa ra phạm vi QSHCN khá rộng so với trước đây, thể hiện trong khái niệm tương đối khái quát về QSHCN quy định tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. [18, Điều 4] QSHCN được xác lập như sau: QSHCN đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bản bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Riêng đối với tên thương mại và bí mật kinh doanh, QSHCN được xác lập một cách tự động, không cần phải trải qua các trình tự, thủ tục xin xác lập quyền.
Đối với tên thương mại, QSHCN được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó. Đối với bí mật kinh doanh, QSHCN được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí 8 z mật kinh doanh đó. Đối với quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thì được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh. [18, Điều 6] Xuất phát từ giá trị to lớn cũng như thuộc tính vô hình, khả năng chia sẻ và tính xã hội rất cao của các đối tượng thuộc QSHCN nên các hành vi vi phạm QSHCN ngày càng diễn ra tinh vi, gây thiệt hại to lớn cho chủ sở hữu quyền cũng như tác động tiêu cực tới sự phát triển chung về kinh tế, khoa học kĩ thuật của quốc gia và nhân loại.
Chính vì vậy, việc Nhà nước quy định về SHTT nói chung và QSHCN nói riêng nhằm bảo vệ quyền của những người hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt là chính sách mang tính toàn cầu, có ý nghĩa xã hội và kinh tế quan trọng. Đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp QSHCN là một phần của quyền SHTT nên QSHCN mang các đặc trưng của quyền SHTT, ngoài ra, trong sự so sánh với quyền tác giả thì QSHCN có những đặc điểm cơ bản sau đây: Đối tượng của QSHCN luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các đối tượng của QSHCN đều mang tính chất hàng hóa, phục vụ quá trình kinh doanh để tạo ra lợi nhuận. Một trong những tiêu chí để phân chia kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ thành quyền tác giả hay QSHCN chính là căn cứ vào tính hữu ích, khả dụng của chúng.
Nếu đối tượng của quyền tác giả chủ yếu được áp dụng trong các hoạt động giải trí tinh thần thì các đối tượng của QSHCN lại được ứng dụng trong các hoạt đông sản xuất, kinh doanh thương mại. Nói cách khác, bảo hộ QSHCN là bảo hộ về nội dung, còn bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ về hình thức. Chính vì vậy mà một trong những điều kiện để được bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí là chúng phải có khả năng áp dụng công nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị cho đời sống con người. Còn đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh phải chứa đựng các chỉ dẫn 9 z thương mại, nhằm phân biệt chủ sở hữu QSHCN với các chủ thể khác, giúp nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ tạo ra ưu thế cạnh tranh trong thị trường, đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ đồng thời cũng giúp người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn hàng phù hợp với yêu cầu cũng như chất lượng mà mình mong muốn.
QSHCN được bảo hộ thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là đặc trưng cơ bản của QSHCN so với quyền tác giả. Nếu như quyền tác giả là quyền tự nhiên, xuất hiện khi tác giả sáng tác, làm ra các tác phẩm, việc đăng ký quyền tác giả chỉ mang tính chất khuyến khích, thì QSHCN chỉ được pháp luật bảo hộ khi chúng được cơ quan nhà nước chính thức cấp văn bằng bảo hộ. QSHCN đối với sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cho người nộp đơn đăng kí các đối tượng đó. Riêng với tên thương mại và bí mật kinh doanh, QSHCN được xác lập một cách tự động, không cần trải qua các trình tự, thủ tục xin xác lập quyền.
QSHCN đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại tương ứng với khu vực và lĩnh vực kinh doanh. QSHCN đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất kì cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin và bảo mật thông tin tạo thành bí mật kinh doanh đó. QSHCN được bảo hộ theo giới hạn không gian và thời gian Quyền sở hữu đối với tài sản thông thường được bảo hộ vô thời hạn và chỉ chấm dứt khi có các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hoặc khi tài sản bị tiêu huỷ. Quyền sở hữu đối với tài sản thông thường không bị giới hạn về mặt không gian.
Trong khi đó, quyền 10 z sở hữu công nghiệp chỉ có thể được bảo hộ trong một khoảng thời gian xác định tùy thuộc vào từng loại đối tượng và chỉ giới hạn trong một phạm vi lãnh thổ xác định. Thời gian nhắc đến ở đây là thời hạn của văn bằng bảo hộ mà chủ sở hữu các đối tượng SHCN được cấp. Căn cứ vào giá trị của từng đối tượng SHCN đối với sự phát triển của tiến bộ xã hội, có thể chia thời hạn bảo hộ ra thành ba loại: thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn; thời hạn bảo hộ được xác định và có thể được gia hạn; thời hạn bảo hộ không xác định. Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp dân sự 1.
Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp Giữa các khái niệm bảo vệ QSHCN, bảo hộ QSHCN, thực thi QSHCN có mối quan hệ mật thiết với nhau. Để làm rõ khái niệm bảo vệ QSHCN, trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm về bảo hộ QSHCN và thực thi QSHCN. Ở Việt Nam, khái niệm bảo vệ QSHTT lần đầu tiên được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ. Trước khi luật này được ban hành, những khái niệm được sử dụng thường xuyên là “bảo hộ QSHTT”, “thực thi QSHTT”.
Hai thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong mọi hoạt động của lĩnh vực SHTT, từ hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về SHTT đến các hoạt động thực thi SHTT. Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” được hiểu là “che chở, không để bị hư hỏng, tổn thất” [33].