Chương 1 CÁC VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE BẢO HO QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐÓI VỚI THÔNG TIN BÍ MẬT 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE THONG TIN BÍ MAT 1. Khái niệm thông tin bí mật 1. Thuật ngữ thông tỉn bí mật “Thông tin” theo tiếng Việt, là những “tin ức về những sự kiện diễn ra trong thé giới xung quanh ” [52].
Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày “thông tin” thường được hiểu là các tin tức, các tài liệu, các dữ liệu về các sự việc, hiện tượng của thé giới xung quanh chúng ta. Thực tế cho thấy, để tồn tại, hàng ngày hàng giờ con người phải tiếp cận và xử lý với vô vàn các loại thông tin khác nhau. Trong đó, các thông tin liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh (như thông tin về công thức chế biến sản phẩm, phương pháp sản xuất, tài chính, danh sách khách hàng.) chiếm giữ một khối lượng lớn và CÓ vai trò quan trọng đối với đời sống của con người. Cụ thể, khi tham gia các hoạt động thương mại, khả năng cạnh tranh của các bên sẽ kém hiệu quả hoặc mất đi, lợi ích hợp pháp của các bên sẽ bị xâm phạm nếu các thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể bị đối thủ cạnh tranh năm bắt hoặc khống chế.
Do sự khác biệt về điều kiện kinh tế chính trị xã hội, phong tục tập quán, truyền thống dân tộc. tại các hệ thống pháp luật trên thé giới loại thông tin này được gọi bang nhiều thuật ngữ khác nhau: Bí mật thương mại (trade secret)’, bi mat kinh doanh (business secret)’, thong tin mat (confidential information)’. ' Thuật ngữ “bí mật thương mại” được sử dung rat phổ biến trong hệ thống pháp luật trên thé giới (đặc biệt là pháp luật Mỹ), trong các hiệp định thương mại như Hiệp định NAFTA, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. ? Thuật ngữ này được sử dụng tại một số hệ thống pháp luật như Thụy Sỹ, Việt Nam.
> Thuật ngữ này được sử dụng trong Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam - Hoa Kỳ. Tại “Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyén SHTT” (Trade Related Aspects of Intelleetual Property Right - Gọi tắt là Hiệp định TRIPs) được ký kết vào năm 1994 trong khuôn khổ của WTO, để bảo hộ quyền SHTT đối với các TTBM có giá trị thương mại, thuật ngữ “TTBM” hay “thông tin không được tiết lộ” (Undisclose Information) lần đầu tiên được nhà soạn thảo Hiệp định TRIPs sử dụng. Theo quy định của Hiệp định TRIPs, TTBM là một trong các đối tượng của quyền SHTT mà các nước thành viên của WTO phải có nghĩa vụ bảo hộ. Cụ thể khoản 2 Điều 1 của Hiệp định TRIPs quy định các nước thành viên của WTO phải có nghĩa vụ bảo hộ các đối tượng sau của quyền SHTT: + Bản quyền tác giả và các quyền liên quan; + Nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lí; + Kiểu dáng công nghiệp; + Sáng chế (bằng độc quyền sáng chế); + Thiết kế bố trí mạch tích hợp; + Thông tin bí mật.
Tương tự, khoản 1 Điều 39 Mục 7 Hiệp định TRIPs quy định “các thành viên phải bảo hộ TTBM. các dit liệu được nộp cho Chính phú hoặc các cơ quan Chính phủ `. TTBM trở thành một đối tượng của quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPs là kết quả của sự tác động từ nhiều yếu tố, như nhu cầu bảo hộ quyền SHTT một cách đầy đủ và toàn diện hơn nữa trong thương mại quốc tế; nhu cầu tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn cho việc chuyền giao công nghệ; sự phát triển nhanh chóng của các ngành sản xuất liên quan đến các sản phẩm hoá nông và dược phẩm tại một số nước trên thé giới (như Mỹ, các nước thuộc liên minh Châu Âu). Trên thực tế, sáng kiến đưa TTBM vào Hiệp định TRIPs được bắt đầu từ văn bản dé nghị của Mỹ ngày 28 tháng 10 năm 14 1987 và sau đó là của Châu Âu va Thụy Sỹ.
Trong số các nước thành viên của WTO cũng có nước đã phản đối việc đưa TTBM trở thành đối tượng của quyền SHTT như Brazil, An Độ. Các nước phản đối đã lập luận rằng: TTBM không phải là đối tượng của quyền SHTT; TTBM được bảo hộ theo Điều 10°Ê của Công ước Paris là đây đủ; hoặc việc bảo hộ TTBM nên được bảo hộ theo các quy định của Luật dân sự, hoặc Luật hợp đồng là thích hợp hơn cả [56]. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, kết thúc vòng đàm phán Uruguay, TTBM đã chính thức trở thành đối tượng của quyền SHTT được bảo hộ tại tất cả các nước thành viên thuộc WTO. Điều này thé hiện chính sách chung của các nước thuộc WTO là quyên SHTT sẽ được bảo hộ ké cả khi nó không được công bố (khác với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp chỉ được bảo hộ khi được đăng ký).
Nghiên cứu các quy định của Hiệp định TRIPs chúng ta không tìm thấy một sự giải thích cụ thé về TTBM, thay vào đó Hiệp định chi đưa ra các điều kiện (tiêu chí) để TTBM được bảo hộ. Theo hướng dẫn của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) về thực hiện Hiệp định TRIPs, khi giải thích về Điều 39 (Điều luật quy định về bảo hộ TTBM của Hiệp định TRIPs), TTBM có thé được gọi là “BMTM” [62, tr. Tương tự như vậy, trong văn kiện gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam về phần “Những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” TTBM được giải thích bao gồm “BMTM và dit liệu” [49, tr. Như vậy, về cơ bản TTBM theo quy định của Hiệp định TRIPs là đề cập đến việc bảo hộ quyền SHTT đối với “BMTM” (Trade secret).
Vậy tại sao Hiệp định TRIPs lại không dùng thuật ngữ “BMTM”? Lý giải cho van dé này có rất nhiều cách giải thích khác nhau: Có quan điểm cho rằng việc dùng khái niệm “TTBM” Ja “nhằm mục dich nhân mạnh rang việc bảo hộ can phải di xa hơn so với những quan niệm hẹp đã tén tai trong thé ky trước về loại đối tượng này, vi dụ nhự. Bi mật san 15 xuất, danh sách bạn hang vv. Tương tự như vậy, một quan điểm khác lí giải: “Nhiéu nước đã xếp BMTM (trade secrets) vào lãnh địa bảo hộ khá rộng lớn của TTBM (confidential information) [37]. Như vậy, với các giải thích trên thi việc dùng khái niệm “TTBM” trong Hiệp định TRIPs là nhằm mở rộng hơn khái niệm “BMTM” theo nghĩa truyền thống của nó đã tồn tại từ rất lâu trong pháp luật các nước.
Tuy nhiên, lập luận của các tác giả trên chưa thật sự thuyết phục, bởi lẽ, khi tìm hiểu khái niệm “BMTM” theo luật của một số nước, đặc biệt là Luật Mỹ (Luật BMTM thống nhất được ban hành năm 1979 sau đó được sửa đổi, b6 sung vào năm 1985) chúng ta thấy phạm vi thông tin được bảo hộ là “BMTM” theo luật Mỹ là rất rộng và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí bảo hộ theo quy định tại Điều 39 của Hiệp định TRIPs [60]. Khác với quan điểm trên, một tác giả nước ngoài, trong bài viết có nhan đề “Bảo hộ BMTM va TTBM” đã lập luận rằng: “Thudt ngữ TTBM (undisclose information) được sử dụng do các thuật ngữ khác không có ý nghĩa tương tự trong các hệ thống pháp luật khác nhau " hay “Điều 39 TRIPs hợp nhất tat cả các định nghĩa BMTM của Mỹ và các khái niệm của Châu Âu về cạnh tranh không lành mạnh và các hoạt động thương mại trung thực ”'. Như vậy, theo cách giải thích của tac gia này thì việc dùng thuật ngữ “TTBM” trong Hiệp định TRIPs được xem là một sự “dung hoà” của các khái niệm (thuật ngữ) khác nhau, hoặc giống nhau trên thế giới nhưng đều hướng tới việc bảo hộ các TTBM trong lĩnh vực kinh doanh - thương mại. Chúng ta có thể chứng minh tính hợp lí của cách giải thích trên thông qua việc tìm hiểu luật của một số nước trên thế giới.
Ví dụ, pháp luật Mỹ quy định BMTM bao gém cả bí quyết kỹ thuật (BQKT - know-how). Nói cách khác, theo luật Mỹ thì BQKT nằm ' Nguyên bản tiếng Anh là: “The wording of the agreement is “undisclosed information”. This term was retained because other terms did not have the same meaning in the different legal systems”. “Article 39 TRIPS reunites American definitions of trade secrets and the European concepts of unfair copetition and honest commecial practices” (56, tr.
16 trong phạm vi của BMTM. Trong khi đó theo luật của các nước Châu Au thi “BMTM” và “BOKT” là hai đối tượng khác nhau. Luật của một số nước Châu Á, như Hàn Quốc, Singapore, Indonexia. cũng có sự phân biệt tương tự như vậy giữa BMTM và BQKT [55, tr.
Hiệp định Thương mai Việt Nam và Hoa Kỳ có một cách giải thích riêng về TTBM: “77BM” bao gôm BMTM, thông tin đặc quyên và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng được tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật quốc gia của Bên liên quan” (khoản 1 Điều 2 Chương II)’. Từ sự phân tích trên, cho thấy: “TTBM” Ja thuật ngữ dé chỉ các thông tin trong lĩnh vực thương mai được các chủ sở hữu bảo mat và là đối tượng của quyền SHTT. Tùy vào từng hệ thong pháp luật trên thé giới loại TTBM này được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Định nghĩa về thông tin bí mật Đưa ra định nghĩa chung về TTBM - đối tượng của quyền SHTT là một vấn đề tương đối khó khăn.
Bởi lẽ đây là một loại thông tin có phạm vi rộng, nội dung đa dạng và phức tạp, đặc biệt trong sự phát triển không ngừng của khoa học - kỹ thuật và các quan hệ thương mại quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, để xác định cụ thể, chính xác loại thông tin này và tạo nền tảng cho việc nghiên cứu các nội dung pháp lý về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM thì việc đưa ra định nghĩa chung về TTBM là rất cần thiết. Với mục đích đó, để có một định nghĩa chung về TTBM, trước hết chúng ta sẽ nghiên cứu một số các loại thông tin được xem là “hạt nhân” chủ yếu của TTBM theo quy định của các điều ước quốc tế và các hệ thống pháp luật trên thé giới. ' Nguyên bản tiếng Anh là: “confidential information includes trade secrets, privileged information, and other undisclosed information that has not become subject to an unrestricted public disclosure under the Party's domestic law”.
* Bi mat thuong mai (trade secret) Trên thực tế, không có định nghĩa thống nhất về “BMTM” trên toàn thé giới. Chúng ta có thé tim thay nhiều định nghĩa khác nhau về đối tượng này trong các tài liệu liên quan.