CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HOLOGRAM 1. Khái quát về nhãn hiệu hologram và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hologram 1. Khái niệm nhãn hiệu Từ ngàn xưa, con người đã biết sử dụng những dấu hiệu, ký hiệu riêng trên những đồ vật mà họ làm ra để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của người khác khi giao thương, buôn bán với nhau. Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, các dấu hiệu ấy liền trở thành một công cụ quan trọng trong việc giao thương hàng hóa, mở rộng ra trong lĩnh vực dịch vụ, không chỉ trong lãnh thổ của mỗi quốc gia, mà còn lan rộng qua nhiều châu lục khác.
Các dấu hiệu ấy kết hợp tạo thành một biểu tượng đặc trưng để nhận biết hàng hóa, dịch vụ mà ngày nay người ta gọi đó là “nhãn hiệu”. Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là “Luật SHTT”) quy định tại khoản 16 Điều 4 thì nhãn hiệu được hiểu là “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Nếu hiểu một cách đơn giản theo khái niệm này thì bất cứ dấu hiệu nào nếu có chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân thì đều được xem là nhãn hiệu. Tuy nhiên, thực tế việc dấu hiệu đó có được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hay không thì cần phải xem xét các điều kiện khác có liên quan được quy định trong Luật SHTT.
Cụ thể, theo điều 72 Luật SHTT quy định rằng một dấu hiệu được bảo hộ nhãn hiệu khi đáp ứng các điều kiện sau: “1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác”. Như vậy, căn cứ vào thực tiễn thực hiện pháp luật ở nước ta, có thể hiểu 7 rằng một dấu hiệu chỉ được xem là nhãn hiệu khi đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 72 Luật SHTT.1 Tuy nhiên, khi so sánh, đối chiếu với thực tiễn xã hội cũng như quy định pháp luật của một số quốc gia và các điều luật trong điều ước quốc tế thì rõ ràng quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật SHTT vẫn chưa đầy đủ và đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.
Chính vì lẽ đó, mà có những dấu hiệu dù nhìn thấy được hoặc cảm nhận bằng các giác quan khác của con người, có chức năng phân biệt hàng hóa , dịch vụ của các tổ chức khác nhau nhưng vẫn chưa được công nhận là nhãn hiệu và chưa có cơ chế đăng ký cũng như bảo hộ quyền như nhãn hiệu âm thanh, mùi, vị, 3 chiều, chuyển động, hologram,… Khái niệm nhãn hiệu trong các điều ước quốc tế có liên quan và các quốc gia trên thế giới về sở hữu trí tuệ nhãn hiệu vừa có những nét tương đồng nhưng cũng có sự khác biệt so với quy định về nhãn hiệu trong pháp luật Việt Nam. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 (Hiệp định TRIPs) là điều ước quốc tế đầu tiên đưa ra khái niệm nhãn hiệu tại Khoản 1 Điều 15, theo đó: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu”.2 Theo hiệp định, việc xác định một dấu hiệu có thể đăng ký nhãn hiệu hay không phụ thuộc vào mục đích sử dụng và tính phân biệt của dấu hiệu đó. Đây cũng là một cách hiểu tương đối thống nhất về nhãn hiệu của nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Hoa Kỳ, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa được quy định trong Luật Lanham Act năm 1946 (đạo luật về nhãn hiệu hàng hóa của Hoa Kỳ), trong đó có hai quy phạm liên quan đến định nghĩa về nhãn hiệu có phần nào đó khác nhau. Phần định 1 Lê Nết, Nguyễn Xuân Quang (chủ biên) (2013), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.244 2 Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Hiệp định TRIPs), ký ngày 15/4/1994 tại Marrakesh, Maroc. 8 nghĩa Luật này quy định: “Thuật ngữ nhãn hiệu bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng, hay hình vẽ, hoặc sự kết hợp giữa chúng mà - (1) được sử dụng bởi một người, hoặc (2) được một người có ý định chân thành sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định của luật này - để xác định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với những hàng hóa cùng loại được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và để chỉ rõ nguồn gốc của hàng hóa thậm chí khi mà không xác định được nguồn gốc đó”.3 Theo đạo luật này thì, các yếu tố được công nhận trong khái niệm nhãn hiệu chỉ bao gồm những yếu tố truyền thống như tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hay sự kết hợp giữa chúng, còn các yếu tố phi truyền thống nhưng vẫn có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác nhau như âm thanh, hay mùi, dường như chưa được bao trùm trong định nghĩa này. Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển mạnh mẽ và đa dạng của nền kinh tế, Hoa Kỳ là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và cho đăng ký các nhãn hiệu chứa đựng các yếu tố phi truyền thống.
Thực tiễn này diễn ra là nhờ việc giải thích một điều khoản có tính mở trong Điều 2 Luật Nhãn hiệu năm 1946 của Hoa Kỳ. Điều luật này quy định: “Không có nhãn hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa của người nộp đơn với hàng hóa của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào sổ đăng bạ…”. Theo tinh thần của điều khoản này, bất kỳ dấu hiệu nào, không phân biệt định hình hay không định hình, nếu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp thì đều có thể được coi là nhãn hiệu, miễn là nó có khả năng phân biệt hàng hóa của người này với hàng hóa cùng loại của người khác. Trên thực tế, Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đã cấp giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu đối với một số nhãn hiệu phi truyền thống như: nhãn hiệu chứa âm thanh là giọng người đang hát từ âm trầm lên âm cao từ “YAHOO”, “mùi anh đào” sử dụng cho sản phẩm “dầu nhờn tổng hợp” 3 Vũ Thị Phương Lan (2018), Khái niệm và các loại nhãn hiệu trong quy định của pháp luật Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam, http://www.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207406, xem 20/12/2020 9 cho xe phân khối lớn và xe dã ngoại, “mùi nho” sử dụng cho sản phẩm “dầu nhờn và nhiên liệu động cơ” cho phương tiện mặt đất, tàu thuyền, máy bay.4 Đối với Cộng đồng chung Châu Âu, chỉ thị 89/104/EEEC3 và Quy định 40/94 của Cộng đồng chung Châu Âu được xem là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng, được áp dụng chung thống nhất trên toàn Châu Âu.
Mục đích của những quy định này là nhằm đảm bảo điều kiện đăng ký nhãn hiệu hài hòa ở tất cả các quốc gia thành viên. Theo quy định tại Điều 2 Chỉ thị 89/104/EEC3 và Điều 4 Quy định 40/94 của Cộng đồng Châu Âu nhãn hiệu được hiểu như sau: “Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc bao bì của sản phẩm với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác”. Theo định nghĩa này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện: thứ nhất, phải là “dấu hiệu” trong đó chủ yếu là các từ, bao gồm tên riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc bao bì của sản phẩm; thứ hai, phải “được trình bày rõ ràng và chi tiết”; thứ ba, phải “có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác”. Đặc biệt, với cách quy định vừa theo hướng mở vừa theo hướng liệt kê, quy định trên cũng không loại trừ việc các dấu hiệu nhìn thấy được như vị trí, hologram và không nhìn thấy được như âm thanh, mùi, vị có thể trở thành nhãn hiệu và được đăng ký bảo hộ.
Pháp cũng là một trong những nước có quy định về nhãn hiệu sớm nhất với đạo luật được ban hành ngày 23/6/1857, sau đó được sửa đổi qua nhiều giai đoạn. Đến năm 1996, sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, nước Pháp ban hành đạo luật sửa đổi Bộ luật sở hữu trí tuệ cho phù hợp với quy định của hiệp định TRIPs. Khái niệm về nhãn hiệu của Pháp được định nghĩa rộng và mang tính mở, 4 Vân Anh, Nhãn hiệu phi truyền thống: bảo hộ ở Việt Nam như thế nào?, http://vietthink.vn/232/print- article.711-1 của Bộ luật sở hữu trí tuệ 1996 của Cộng hòa Pháp định nghĩa nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu sản xuất, nhãn hiệu thương mại hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng hình họa dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của thể nhân hoặc pháp nhân.