Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, vị trí pháp lý, vai trò của người nộp thuế 1. Khái niệm người nộp thuế Người nộp thuế (NNT) với tư cách là một bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật thuế có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế theo quy định của pháp luật. Đây là nghĩa vụ gắn liền với đối tượng nộp thuế khi thực hiện các hành vi chịu thuế.
NNT là tất cả các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện phải nộp một loại thuế nhất định. Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể khái niệm NNT mà sử dụng phương pháp liệt kê. Trong đó, NNT được đề cập đến tại các quy định sau: Điều 2 Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 (được sửa đổi bổ sung tại Luật số 32/2013/QH13); Điều 2 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN; Điều 4 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 (được sửa đổi bổ sung tại Luật số 31/2013/QH13); Điều 2 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT; Điều 4 Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12; Điều 2 Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 (được sửa đổi bổ sung tại Luật số 26/2012/QH13; Điều 2 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN. Ngoài ra, NNT còn được liệt kê tại Điều 2 Nghị định số 83/2013/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật QLT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật QLT, theo đó NNT có thể chia thành ba nhóm: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm thứ nhất: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật.
Nhóm thứ hai: Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc NSNN. Nhóm thứ ba: Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay NNT. Vị trí pháp lý của người nộp thuế trong quan hệ pháp luật thuế Cùng với Nhà nước, NNT là một chủ thể tham gia và đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ pháp luật thuế. Đây là chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và trực tiếp sáng tạo, quản lý các lợi ích vật chất được hình thành trong xã hội.
Cũng như các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật khác, để trở thành NNT trong quan hệ pháp luật thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải hội 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tụ đủ năng lực chủ thể, năng lực hành vi [62]. Với tư cách là một chủ thể trong quan hệ pháp luật thuế, NNT có đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia quan hệ pháp luật thuế, các quyền và nghĩa vụ này cũng chính là một phần nội dung của quan hệ pháp luật thuế. Có hai cách đánh giá khác nhau về vị trí pháp lý của NNT phụ thuộc vào việc xác định bản chất pháp lý của quan hệ pháp luật thuế. Thứ nhất, Theo quan niệm truyền thống lâu nay, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính được thiết lập giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức khác trong xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật thuế và được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy [62].
Dưới góc độ vật chất, quan hệ pháp luật thuế được thiết lập để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN). Tiền đề thiết lập quan hệ pháp luật thuế là do sự hình thành chính thể nhà nước để quản lý điều hành các hoạt động trong xã hội. Bộ phận chức năng ấy cần có nguồn vật chất hoạt động, nên thuế hình thành. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là người nộp thuế (NNT) buộc phải chuyển giao một phần lợi ích của mình cho NSNN.
Với quan niệm này, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ bất bình đằng, trong đó một bên là cơ quan nhà nước – với tư cách là người có quyền uy, được sử dụng quyền lực nhà nước để đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ phục tùng quyền lực của mình, bằng cách tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế theo luật định. Còn NNT, với tư cách là người có nghĩa vụ phục tùng, sẽ hoàn toàn không có cơ hội để tự vệ nếu các chủ thể quyền uy có hành vi lạm quyền và gây ra các thiệt hại cho mình. Với cách đánh giá này, NNT ở vào một vị thế yếu trong quan hệ pháp luật thuế, dù rằng trên thực tế thì công sức và đóng góp của họ cho Nhà nước là không hề nhỏ chút nào. Cách nhìn nhận này cũng có nguy cơ “tước đi” của NNT những cơ hội 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cần thiết để họ có thể công khai bày tỏ nguyện vọng của mình khi đóng thuế cho nhà nước, cũng như có cơ hội được tự vệ mỗi khi quyền lợi hợp pháp và chính đáng của họ bị cơ quan quản lý thuế xâm hại.
Điều này hoàn toàn không có lợi cho Nhà nước bởi khi đó, người dân sẽ “quay lưng” lại với chính sách thuế và có động thái không phục tùng chính sách thuế mà họ cho là bất hợp lý. Thứ hai, Theo quan điểm của Mác, quyền của con người là sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, NNT cũng phải có một số quyền nhất định. Vì lẽ đó, trong bối cảnh xã hội đương đại, cần đổi mới quan niệm về thuế và quan hệ pháp luật thuế, theo hướng cho rằng quan hệ pháp luật thuế không hoàn toàn là quan hệ hành chính mà thực chất nó có tính chất của một quan hệ trao đổi sòng phẳng giữa hai bên (Nhà nước và tổ chức cá nhân là NNT).
Điều này đồng nghĩa với việc thay đổi vai trò của Nhà nước trong quan hệ pháp luật thuế, theo hướng chuyển từ mô hình “cơ quan cai trị” sang mô hình “cơ quan phục vụ”. Với quan niệm này, chúng ta đã đề cao vị thế của NNT trong quan hệ pháp luật thuế và đảm bảo cho NNT có khả năng tự vệ trước nguy cơ bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan quản lý thuế hoặc công chức quản lý thuế gây ra. Khi đó, Nhà nước và NNT sẽ ở vào vị trí bình đẳng hơn, nghĩa là Nhà nước có ít quyền hơn và NNT có nhiều quyền hơn so với cách hiểu truyền thống về quan hệ pháp luật thuế. Có thể thấy rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc nhìn nhận quan hệ pháp luật thuế như thế nào và xác định bản chất của nó ra sao là vấn đề có tính then chốt, ảnh hưởng quyết định đến việc xác định vị trí pháp lý của NNT cũng như việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho NNT trong quan hệ pháp luật thuế.
Nếu xác định không đúng thì sẽ dẫn đến hệ quả làm “méo mó” bản chất đích thực của quan hệ pháp luật thuế và làm cho chính sách thuế của Nhà nước trở thành gánh nặng đối với người dân. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của người nộp thuế Hiện nay các khoản thu về thuế là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện các mục tiêu, chính sách, và các định hướng của Nhà nước. Thuế được coi là nguồn tài chính chủ yếu để cân đối cho hoạt động chi thường xuyên.
Theo Luật NSNN 2002, khoản chi thường xuyên của Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương được cân đối bởi các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí; loại trừ những địa phương không đủ khả năng cân đối thu chi thường xuyên. Điều này thể hiện sự lệ thuộc của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương vào các khoản thu về thuế. Bộ máy nhà nước hoạt động nhằm hướng tới đối tượng phục vụ là các thực thể trong xã hội trong đó có DN. Các cơ quan quản lý là các bộ, ban, ngành duy trì hoạt động bằng các khoản thu từ thuế cũng chính là chủ thể phải có trách nhiệm duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh và công bằng để NNT có điều kiện phát triển, tăng thu nhập và làm tăng các khoản đóng góp về thuế.
Từ quan hệ sử dụng các khoản thu từ thuế, có thể thấy Nhà nước thực chất đã trở thành chủ thể “phục vụ” theo đúng nghĩa hơn là chủ thể “quyền lực” [27]. Tiếp đó, các khoản thu từ thuế góp phần quan trọng giúp Nhà nước tổ chức điều hành xã hội, cung ứng các tiện ích công cộng. Do điều kiện tài chính quốc gia hạn hẹp, vay nợ trong và nước ngoài đã trở thành kênh huy động chủ yếu để đầu tư phát triển. Bức tranh tài chính trong Dự toán NSNN không thể hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của quốc gia mà chỉ phản ánh một phần các hoạt động thu chi trong năm ngân sách.
Vấn đề đặt ra là nguồn tài chính nào sẽ được cân đối để trả các khoản vay nợ đến hạn? Đầu tư công đối với các công trình không có khả năng thu hồi vốn sẽ không tạo ra lợi ích cho NSNN một cách trực tiếp, nhưng kết quả đầu tư công lại đóng vai trò tích cực kích thích phát triển kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, tạo ra lợi ích cho NNT. Sự tăng lên về giá trị tài sản của NNT sẽ có tác động 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tích cực trong tạo nguồn thu cho NSNN, đồng thời các khoản thu từ thuế trở thành nguồn tài chính để trả nợ cho các khoản vay của Nhà nước. Tuy nhiên, Theo Tổng cục Thống kê, ước tính năm 2013, số DN gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động là 60.737 DN, tăng 11,9% so với năm 2012 [61]. DN ngừng nộp thuế và tình trạng thất nghiệp đáng báo động đang làm xói mòn lòng tin về vai trò của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Điều đương nhiên, Nhà nước khó có thể kỳ vọng nhiều về các khoản thuế trực thu và gián thu nộp vào NSNN từ DN. Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước cần ban hành kịp thời các chính sách kinh tế, tài chính có hiệu quả để giúp cho DN có thể tồn tại và phát triển. Bản chất và phân loại quyền của người nộp thuế 1.