Tổng quan nghiên cứu

Thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế trực thu giữ vai trò trụ cột trong việc kiến tạo nguồn thu ngân sách bền vững và điều tiết công bằng xã hội. Trong giai đoạn 2009-2011, nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 110% qua các năm, đóng góp khoảng 3,4% trong tổng thu ngân sách nhà nước và tương đương 0,87% GDP. Đến năm 2013, số lượng cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện được quản lý theo dõi chưa đến mức phải nộp thuế đã đạt hơn 11,37 triệu người. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật thuế từ sau khi Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 có hiệu lực (ngày 01/01/2009) và được sửa đổi năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2013) đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế là cá nhân cư trú.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu tập trung vào sự mất cân đối giữa quyền lực hành thu của Nhà nước và cơ chế bảo vệ quyền lợi tài chính chính đáng của người nộp thuế. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách thuế. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2015, có đối chiếu với 69 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần song phương và kinh nghiệm của 5 quốc gia trong khu vực Châu Á. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc tối ưu hóa hệ số công bằng thuế, giảm thiểu chi phí tuân thủ và thúc đẩy sự đồng thuận của hơn 11 triệu người nộp thuế trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của ba lý thuyết kinh tế - pháp lý kinh điển:

Thứ nhất, Lý thuyết công bằng thuế của Adam Smith với 4 nguyên tắc cốt lõi: bình đẳng, xác thực, tiện lợi và tiết kiệm chi phí hành thu. Lý thuyết này chỉ rõ việc phân bổ gánh nặng thuế phải đảm bảo cả công bằng theo chiều ngang (người có cùng mức thu nhập và hoàn cảnh phải nộp thuế như nhau) và công bằng theo chiều dọc (người có năng lực kinh tế cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn).

Thứ hai, Lý thuyết khả năng nộp thuế (Ability-to-Pay Principle) và nguyên tắc phân phối lại thu nhập của Montesquieu, khẳng định Nhà nước cần tính toán mức độ động viên dựa trên phần của cải có thể để lại cho người dân duy trì tái sản xuất sức lao động tối thiểu trước khi thực hiện nghĩa vụ ngân sách.

Thứ ba, Lý thuyết lựa chọn công cộng và nguyên tắc đánh thuế trên thu nhập ròng thực tế, đòi hỏi pháp luật phải khấu trừ toàn bộ các chi phí tạo ra thu nhập và chi phí sinh hoạt thiết yếu.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Cá nhân cư trú (xác định qua tiêu chí hiện diện từ 183 ngày trở lên hoặc có nơi ở thường xuyên); Thu nhập chịu thuế ròng; Mức giảm trừ gia cảnh (gồm giảm trừ bản thân 9 triệu đồng/tháng và người phụ thuộc 3,6 triệu đồng/tháng); Biểu thuế lũy tiến từng phần với 7 bậc thuế suất trải dài từ 5% đến 35%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

Về nguồn dữ liệu: Đề tài phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi năm 2012), Luật Quản lý thuế, 3 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (1990, 1994, 2001); chuỗi số liệu thống kê thứ cấp từ Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật thuế của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế giai đoạn 2008-2013 với dữ liệu quản lý của hơn 11,37 triệu cá nhân; 69 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã ký kết tính đến tháng 07/2014.

Về phương pháp phân tích và chọn mẫu: Đề tài áp dụng phương pháp so sánh luật học để đối chiếu toàn diện 10 loại thu nhập chịu thuế và 14 nhóm thu nhập miễn thuế giữa Việt Nam và 5 quốc gia Châu Á (Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản). Cỡ mẫu phân tích bao quát 100% các nhóm thu nhập phổ biến gồm tiền lương, tiền công, kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản và chuyển nhượng chứng khoán. Việc lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp thống kê định lượng giúp đánh giá chuẩn xác tác động thực tế của chính sách đối với từng nhóm đối tượng dân cư trong timeline nghiên cứu từ năm 1990 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng pháp luật thuế thu nhập cá nhân Việt Nam làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, bước tiến lịch sử về bình đẳng pháp lý: Luật năm 2007 đã xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt đối xử kéo dài suốt 18 năm (1990-2008) giữa công dân Việt Nam và cá nhân người nước ngoài. Việc áp dụng thống nhất tiêu chí cư trú 183 ngày và một biểu thuế duy nhất đã bảo đảm 100% người nộp thuế cư trú được đối xử bình đẳng, phù hợp với các chuẩn mực trong 69 Hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Thứ hai, cơ chế điều tiết thu nhập có hiệu quả phân hóa rõ nét: Số liệu thống kê giai đoạn 2009-2013 cho thấy người nộp thuế ở Bậc 1 (thuế suất 5%) chiếm áp đảo từ 73,3% đến 76,9% tổng số người nộp thuế từ tiền lương, tiền công nhưng chỉ đóng góp từ 7,0% đến 10,2% tổng số thu. Ngược lại, nhóm người nộp thuế từ Bậc 2 trở lên (thuế suất 10% đến 35%) chỉ chiếm khoảng 23,1% đến 26,7% về số lượng nhưng đóng góp tới 89,8% đến 93,0% tổng nguồn thu ngân sách từ nhóm tiền lương.

Thứ ba, mở rộng diện bao quát và tính nhân văn của chính sách: Pháp luật đã luật hóa chi tiết 10 loại thu nhập chịu thuế và 14 nhóm thu nhập miễn thuế mang đậm tính an sinh như: miễn thuế tiền kiều hối, học bổng, nhà ở duy nhất, tiền lương hưu từ Quỹ Bảo hiểm xã hội và tiền lương làm thêm giờ ban đêm.

Thứ tư, tồn tại những bất cập lớn gây tổn hại quyền lợi người nộp thuế: Mức giảm trừ gia cảnh cố định (9 triệu đồng cho người nộp thuế và 3,6 triệu đồng cho người phụ thuộc) thiếu cơ chế cập nhật tự động theo chỉ số lạm phát; quy định thu thuế chuyển nhượng chứng khoán 0,1% trên giá bán khiến nhà đầu tư dù thua lỗ vẫn phải nộp thuế; phương pháp khoán doanh thu hộ kinh doanh còn mang tính áp đặt cơ học.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích cơ cấu điều tiết thuế qua các mô hình dữ liệu, sự chênh lệch có thể được trực quan hóa rất rõ ràng thông qua biểu đồ phân bổ tỷ trọng. Cột thể hiện số lượng người nộp thuế phản ánh tỷ lệ người chịu thuế Bậc 1 chiếm tới 76,9%, trong khi cột thể hiện đóng góp ngân sách lại đảo chiều hoàn toàn khi nhóm Bậc 2 trở lên gánh vác tới 89,8% số thu. Điều này chứng minh biểu thuế lũy tiến từng phần đã phát huy rất tốt chức năng phân phối lại thu nhập và giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.

Tuy nhiên, khi so sánh với biểu thuế của Malaysia (với các mức thuế suất chia theo khoảng thu nhập rộng) hay Nhật Bản và Hàn Quốc, biểu thuế 7 bậc của Việt Nam có khoảng cách giữa các bậc thu nhập quá hẹp (mỗi bậc chỉ cách nhau từ 5 đến 15 triệu đồng). Khoảng cách hẹp này khiến người lao động dễ bị đẩy lên bậc thuế cao hơn ngay khi thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát, dù thu nhập thực tế không đổi. Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ quan điểm lập pháp còn thiên về mục tiêu tập trung nguồn thu cho ngân sách, chậm chuyển đổi sang tư duy phục vụ và bảo vệ người nộp thuế trong nền kinh tế thị trường số hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và bảo vệ tối đa quyền lợi của cá nhân cư trú, 4 nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai:

Thứ nhất, cải cách và tinh gọn biểu thuế lũy tiến từng phần: Quốc hội và Bộ Tài chính cần sửa đổi biểu thuế từ 7 bậc hiện hành xuống còn 5 bậc, đồng thời nới rộng khoảng cách giữa các bậc thuế và giảm mức thuế suất cao nhất từ 35% xuống khoảng 30%. Mục tiêu giảm 15% chi phí tuân thủ thuế cho cá nhân và tăng tính cạnh tranh trong thu hút nhân lực trình độ cao, hoàn thành thực hiện trong giai đoạn 2016-2020.

Thứ hai, thiết lập cơ chế tự động điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh theo biến động kinh tế: Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần ban hành quy định tự động điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh khi chỉ số giá tiêu dùng biến động từ 10% đến 20%, đồng thời nâng mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc lên tối thiểu 50% mức giảm trừ của bản thân người nộp thuế (tương đương khoảng 4,5 đến 5 triệu đồng/tháng). Lộ trình thực hiện: 2016-2018 do Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo.

Thứ ba, hoàn thiện phương pháp tính thuế đối với chuyển nhượng vốn và chứng khoán: Tổng cục Thuế cần áp dụng triệt để nguyên tắc đánh thuế trên thu nhập ròng thực tế, cho phép nhà đầu tư lựa chọn quyết toán thuế cuối năm theo chênh lệch lãi lỗ (chỉ nộp thuế khi có lãi và được chuyển lỗ tối đa trong vòng 5 năm). Target bảo vệ 100% người nộp thuế khỏi việc bị thu thuế khi kinh doanh thua lỗ, áp dụng ngay trong giai đoạn 2016-2017.

Thứ tư, mở rộng danh mục các khoản chi phí cá nhân được khấu trừ hợp lý: Cho phép người nộp thuế khấu trừ các khoản chi thiết yếu có hóa đơn hợp pháp trước khi tính thuế như: chi phí khám chữa bệnh hiểm nghèo vượt quá 10% tổng thu nhập, chi trả lãi vay mua căn nhà đầu tiên và chi phí đào tạo nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Lộ trình triển khai trong giai đoạn 2018-2020 do Chính phủ điều hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp (Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Vụ Chính sách Thuế - Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế): Khai thác các luận cứ khoa học, số liệu thống kê thực chứng giai đoạn 2008-2013 và các bài học kinh nghiệm quốc tế để phục vụ trực tiếp cho quá trình soạn thảo, thẩm tra các dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Thứ hai, các chuyên gia tư vấn thuế, luật sư và kiểm toán viên: Sử dụng các phân tích chuyên sâu về tiêu chuẩn xác định cá nhân cư trú (quy tắc 183 ngày và nơi ở thường xuyên), cách áp dụng 69 Hiệp định DTA để tư vấn hoạch định nghĩa vụ thuế hợp pháp, bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong nước và chuyên gia nước ngoài.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân sách: Sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận so sánh luật học, cấu trúc khung lý thuyết thuế trực thu và cách tiếp cận bảo vệ quyền người nộp thuế.

Thứ tư, cá nhân người nộp thuế và chủ hộ kinh doanh: Nắm bắt rõ 14 nhóm thu nhập được miễn thuế, quy trình đăng ký người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh và quyền khiếu nại các quyết định hành thu chưa hợp lý để bảo vệ dòng tài chính cá nhân.

Câu hỏi thường gặp

Cá nhân cư trú được xác định theo những tiêu chí pháp lý cụ thể nào?

Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân, cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong hai điều kiện: có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đến; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (bao gồm có nơi đăng ký thường trú/tạm trú hoặc có hợp đồng thuê nhà để ở từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế).

Vì sao quy định thu thuế chuyển nhượng chứng khoán 0,1% trên giá bán từng lần lại gây bất cập?

Phương pháp thu 0,1% trên tổng giá trị mỗi lần chuyển nhượng không căn cứ vào thu nhập thực tế mà đánh trực tiếp trên doanh thu giao dịch. Khi thị trường sụt giảm, nhà đầu tư bán cắt lỗ với mức âm từ 10% đến 30% giá trị danh mục nhưng vẫn bị tự động khấu trừ thuế, vi phạm nguyên tắc đánh thuế trên thu nhập ròng.

Thu nhập từ làm việc ban đêm hoặc làm thêm giờ được ưu đãi thuế như thế nào?

Pháp luật quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập trả cao hơn do làm việc ban đêm hoặc làm thêm giờ so với mức lương làm ban ngày trong giờ hành chính. Ví dụ, nếu lương tiêu chuẩn là 50.000 đồng/giờ và làm thêm ban đêm được trả 75.000 đồng/giờ thì khoản chênh lệch 25.000 đồng/giờ hoàn toàn được miễn thuế.

Biểu thuế lũy tiến từng phần 7 bậc của Việt Nam bộc lộ những hạn chế gì trong hành thu?

Biểu thuế 7 bậc hiện hành có số lượng bậc quá nhiều và biên độ thu nhập giữa các bậc quá hẹp (chỉ cách nhau 5 triệu đồng ở bậc thấp). Khi chỉ số giá cả sinh hoạt tăng, tiền lương danh nghĩa của người lao động tăng theo trượt giá sẽ tự động nhảy lên bậc thuế suất cao hơn, làm gia tăng gánh nặng thuế thực tế.

Các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần bảo vệ cá nhân cư trú tại Việt Nam ra sao?

Căn cứ trên 69 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần song phương, cá nhân cư trú tại Việt Nam có thu nhập phát sinh tại nước ngoài được khấu trừ số thuế đã nộp tại nước sở tại vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Số thuế được khấu trừ tối đa bằng số thuế tính theo biểu thuế Việt Nam, triệt tiêu nguy cơ bị đánh thuế trùng.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết hoàn chỉnh về bảo vệ quyền lợi cá nhân cư trú dựa trên nguyên tắc công bằng của Adam Smith và nguyên tắc khả năng nộp thuế.
  • Đánh giá khách quan thành tựu của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 trong việc xóa bỏ phân biệt đối xử quốc tịch sau 18 năm và thiết lập cơ chế miễn thuế an sinh cho 14 nhóm thu nhập.
  • Chỉ rõ 4 điểm nghẽn thực tiễn về mức giảm trừ gia cảnh lạc hậu, biểu thuế 7 bậc phức tạp và cách tính thuế chưa hợp lý đối với chuyển nhượng vốn và chứng khoán.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao: rút gọn biểu thuế xuống 5 bậc, tự động hóa cơ chế trượt giá giảm trừ gia cảnh, cho phép chuyển lỗ đầu tư và mở rộng chi phí khấu trừ y tế, giáo dục theo lộ trình 2016-2020.
  • Các cơ quan lập pháp và quản lý thuế cần nhanh chóng chuyển đổi tư duy hành chính sang tư duy phục vụ, hoàn thiện khung pháp lý thuế lấy người nộp thuế làm trung tâm để xây dựng hệ thống tài chính quốc gia minh bạch và bền vững.