Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ HẠI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người của bị hại trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo vệ quyền con người của bị hại trong giai đoạn khởi tố, điều tra, vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền con người của bị hại trong giai đoạn khởi tố, điều tra, vụ án hình sự - Khái niệm quyền con người của bị hại Quyền con người là một biểu tượng cho giá trị vĩnh cửu của nhân loại, được tất cả các quốc gia của cộng đồng nhân loại nói chung đặc biệt quan tâm, ghi nhận, bảo vệ và đảm bảo thực hiện ở những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hội và truyền thống dân tộc.
Hiện nay, theo một tài liệu của Liên hiệp quốc - Question and Answers, Geneva, 1994 thì có khoảng 50 định nghĩa về QCN đã được công bố [7, tr.41], mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định: Chính trị, Luật học, Triết học. Để lý giải cho nguồn gốc và bản chất của QCN, dưới góc độ Luật học tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về QCN, tiêu biểu là những quan niệm sau đây: Quan niệm thứ nhất, thuộc trường phái pháp luật tự nhiên cho rằng QCN là những gì bẩm sinh, vốn có gắn liền với con người vì có “luật tự nhiên” mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại. Do đó, các QCN không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức hay cộng đồng nhà nước nào và không có bất kỳ chủ thể nào có thể ban phát hay tước bỏ các QCN bẩm sinh, vốn có đó. Quan niệm này đã chỉ rõ bản chất tự nhiên của QCN, đã đặt con người đứng ở vị trí với những quyền năng tự nhiên cao hơn pháp luật thực định 9 nhưng lại tuyệt đối hóa vị trí của cá nhân, coi con người là bất biến, không phụ thuộc vào không gian, thời gian, quốc gia, dân tộc, tôn giáo, chính phủ.
Từ đó dẫn đến việc phủ nhận tính giai cấp, tính xã hội và tính đặc thù của QCN. Quan niệm thứ hai, thuộc trường phái pháp luật thực định, quan niệm của trường phái này đi ngược lại với quan niệm của trường phái pháp luật tự nhiên. Quan niệm của học thuyết này xuất phát từ việc đặt con người trong tổng thể các mối quan hệ xã hội cho rằng con người là một thực thể xã hội, do vậy QCN chỉ được xác định trong mối quan hệ với các thành viên khác trong xã hội, được chế độ nhà nước, pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Tính xác thật của quan điểm này đã coi QCN là khái niệm có tính chất lịch sử, vì thế QCN luôn luôn gắn liền với các cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội, gắn liền với từng trình độ phát triển và tiến bộ xã hội, chịu sự hạn định của chế độ kinh tế và nhất là của chế độ chính trị xã hội; hay nói cách khác QCN luôn gắn liền với sự tồn tại của nhà nước và pháp luật, hoàn toàn phụ thuộc và chịu sự định đoạt của nhà nước với hệ thống pháp luật được xây dựng chủ yếu phục vụ cho giai cấp cầm quyền và các thiết chế quản lý xã hội mang tính bạo lực (quân đội, công an, tòa án,.
Quan niệm về QCN theo trường phái pháp luật thực định tuy đã nói lên bản chất xã hội của QCN nhưng lại không thừa nhận tính tự nhiên và tính phổ biến của QCN. Hai quan niệm về QCN của hai trường phái này đều có những hạt nhân hợp lý nhưng lại tuyệt đối hóa một trong hai thuộc tính căn bản của QCN nên không tránh khỏi chủ quan, phiến diện khi nhận thức về bản chất QCN. Khắc phục được điều này, học thuyết Mác - Lênin đã đưa ra một quan điểm rất biện chứng về QCN, đó là quan điểm xem con người với tư cách là sản phẩm của tự nhiên và xã hội. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài, đây là tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người.
Nhưng để phát triển ngày một hoàn thiện hơn đòi hỏi con người không ngừng tác động vào tự nhiên, tác động qua lại lẫn nhau làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và tự làm biến đổi mình. Để đáp ứng yêu cầu đó, trước hết đòi hỏi con người phải lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất, một khi số lượng của cải trở nên “dư ăn, dư để” thì tư hữu xuất hiện. Sự xuất hiện chế độ tư hữu 10 về tư liệu sản xuất dẫn đến sự xuất hiện các tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội, từ đó nhà nước ra đời. Cùng với xung đột giai cấp là bước ngoặc trong sự biến đổi tương quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của QCN.
Trong điều kiện xuất hiện giai cấp và xung đột giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp, bản tính tự nhiên của con người lúc ấy sẽ chịu sự chi phối của giai cấp cầm quyền trong xã hội. Như vậy, QCN dù là quyền tự nhiên nhưng không phải tự nhiên mà có, nó phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của chính con người, phụ thuộc vào sự phát triển của chính lực lượng sản xuất và trình độ phát triển kinh tế xã hội. Nói cách khác, không có xã hội con người thì cũng không có khái niệm con người tồn tại với những quyền nhất định. Qua phân tích mối quan hệ biện chứng giữa mặt tự nhiên và xã hội của QCN, chúng ta thấy được QCN có những thuộc tính rất phức tạp và luôn là sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
Trên tinh thần đó, hàng loạt các khái niệm về QCN lần lượt được ghi nhận. Ở cấp độ quốc gia, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 ghi nhận: “Quyền con người là quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”; Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1791 ghi nhận: “Quyền con người là quyền tự do, sở hữu, được an toàn và được chống lại áp bức”. Ở cấp độ quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về QCN cho rằng: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và quyền tự do cơ bản của con người”. Về mặt pháp lý, QCN bao gồm nhiều quyền cụ thể được quy định trong từng lĩnh vực cụ thể, được cả cộng đồng quốc tế ghi nhận và xây dựng các cơ chế bảo vệ.
Trong đó, pháp luật là phương thức bảo vệ hữu hiệu nhất; bởi lẽ chỉ có pháp luật mới có thể chính thức hóa các giá trị xã hội của QCN, làm cho các quyền của con người trở thành quyền pháp định, trở thành ý chí chung của xã hội, được xã hội thừa nhận và phục tùng. Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN năm 1948 còn gọi là Tuyên ngôn nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights) đưa ra 30 điều khoản có tính nguyên tắc, cụ thể hóa các đặc quyền của con người và đưa ra trách nhiệm cụ thể của từng quốc gia liên quan đến vấn đề 11 nhân quyền, đặc biệt là trong việc bảo vệ các quyền đó. Các công ước của Liên hiệp quốc về các quyền dân sự, chính trị; về các quyền kinh tế, xã hội -văn hóa năm 1966 khẳng định lại và cụ thể hóa 30 nguyên tắc đó thành các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. của từng cá nhân con người cụ thể.
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng “Quyền con người là những giá trị cao quý của nhân loại, phản ánh những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người, gắn liền với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hội nhất định, được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”. - Khái niệm bị hại trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS Khái niệm người bị hại trong pháp luật Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm, kể từ khi xuất hiện thủ tục TTHS. Trong khoa học pháp lý về TTHS Việt Nam, người bị hại là một khái niệm quen thuộc và từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực, khái niệm “bị hại” đã được sử dụng thay cho “người bị hại”. Tiếp cận theo góc độ ngôn ngữ học, có thể hiểu bị hại là một chủ thể trong xã hội, bị một hành vi tiêu cực hoặc bất kỳ một sự kiện nào gây ra một thiệt hại.
Thiệt hại đó có thể là những thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất, chẳng hạn như những tổn thất về tài sản, tổn thương về thể chất hoặc tinh thần. Xét theo văn cảnh, ý nghĩa của thuật ngữ “bị hại”, chủ thể đó chịu những thiệt hại từ bên ngoài đưa đến một cách thụ động và trái với mong muốn của chủ thể này. Theo cách tiếp cận này thì khái niệm bị hại dường như tương đồng với khái niệm “nạn nhân”. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “nạn nhân” là: “người bị tai nạn” hoặc “người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến”.
Tuy nhiên, xét theo khía cạnh này thì không phải mọi “nạn nhân” đều là “bị hại” [32, tr. Trong các loại nạn nhân như nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của thiên tai, nạn nhân bị tai nạn lao động, tai nạn giao thông, nạn nhân của tội phạm. thì nội hàm ngữ nghĩa của bị hại được xác định nằm trong khái niệm nạn nhân của tội phạm. Tiếp cận dưới góc độ luật học so sánh cho thấy, bị hại hay người bị hại là một khái niệm mang tính tương đối trong khoa học pháp lý về TTHS.
Tùy theo truyền thống pháp luật, quan điểm của nhà làm luật qua các thời kỳ mà pháp luật 12 TTHS của mỗi nước sẽ quy định khác nhau về khái niệm bị hại. Có thể nói, bị hại chỉ là một trong số những chủ thể bị thiệt hại trong TTHS bởi có rất nhiều chủ thể bị thiệt hại về vật chất lẫn phi vật chất do tội phạm gây ra.