CHƯƠNG 1 Để xác định được đối tượng cần bảo vệ thì cần phải có khái niệm để nhận định chính xác về đối tượng và phải phản ánh những thuộc tính, bản chất của đối tượng trong hiện thực khách quan. Trong thực tiễn hiện nay giao dịch dân sự diễn ra rất phổ biến và thường xuyên. Các giao dịch muốn được pháp luật đảm bảo cho quyền, lợi ích thì phải có đủ các điều kiện khi tham gia giao dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam. Muốn trở thành “người thứ ba ngay tình” thì quá trình thực hiện giao dịch chủ thể này phải thiện chí và trung thực.
Phải có tìm hiểu, nghiên cứu đối tượng cần giao dịch, tránh tình trạng thực hiện giao dịch một cách cẩu thả, không cân nhắc dẫn đến giao dịch vô hiệu và cũng không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. 17 CHƯƠNG 2 BẢO VỆ NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH TRONG TRƯỜNG HỢP TÀI SẢN KHÔNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình trong trường hợp tài sản không đăng ký quyền sở hữu Nguyên tắc: Hệ quả dây chuyền. Trên nguyên tắc, sự vô hiệu của hợp đồng có tác dụng thủ tiêu các quyền của người thứ ba có nguồn gốc từ các quyền được xác lập theo hợp đồng vô hiệu: Một người mua một tài sản, sau đó bán tài sản mua cho một người mua lại; hợp đồng mua bán trước bị vô hiệu; người mua lại tài sản phải trả lại tài sản cho người mua trước để người này trả lại tài sản cho người bán trước.
Có thể hình dung hệ quả của sự vô hiệu của hợp đồng như một phản ứng dây chuyền: Hợp đồng trước vô hiệu, thì hợp đồng sau, hợp đồng sau nữa,. cũng vô hiệu20. Các ngoại lệ: Người thứ ba ngay tình được xem là ngoại lệ đối với nguyên tắc nêu trên. Bảo vệ người thứ ba ngay tình là một chế định được quy định trong BLDS năm 1995, Điều 147 BLDS năm 1995 “trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, nhưng tài sản giao dịch đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình, thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực; nếu tài sản của giao dịch bị tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc trả lại cho người có quyền nhận tài sản đó, thì người thứ ba có quyền yêu cầu người xác lập giao dịch với mình bồi thường thiệt hại”.
Quy định này mới chỉ bảo vệ người thứ ba ngay tình theo hai cách là công nhận giao dịch thì được sở hữu tài sản, không được công nhận thì được bồi thường nên còn đang nghiêng về bảo vệ tuyệt đối chủ sở hữu. Điều luật không nêu cụ thể giao dịch nào thì người thứ ba ngay tình được công nhận, giao dịch nào nào thì người thứ ba ngay tình không được công nhận mà bỏ ngõ bằng từ “nếu”. Vì vậy, khi áp dụng pháp luật giải quyết vụ án sẽ gặp nhiều khó khăn. 20 Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình Luật Dân sự Tập 1, NXB.
Hồ Chí Minh, tr.132 18 Đến BLDS năm 2005, có mở rộng hơn để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự cụ thể Điều 138 quy định: “1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”. Quy định này cũng là quy định tiến bộ thừa nhận quyền của người thứ ba ngay tình trong một số trường hợp nhưng thực tế vẫn không bảo đảm được quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
Điều luật chỉ mới dừng lại ở việc bảo vệ đối với giao dịch là tài sản không đăng ký quyền sở hữu, còn đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì chưa được BLDS bảo vệ. Quy định này đã từng bước khẳng định những đối tượng giao dịch dù bị vô hiệu đối với mối quan hệ trước, nhưng đối với mối quan hệ tiếp theo thì được pháp luật thừa nhận cụ thể quyền được pháp luật bảo vệ. Và đến Điều 133 của BLDS năm 2015 người ngay tình được bảo vệ cụ thể như sau “trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này” Theo đó, đối với các tài sản không quy định phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba, và người này hoàn toàn khách quan, thiện chí thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người này có hiệu lực. Ngoại trừ: 19 Thứ nhất, đối tượng của giao dịch là tài sản có thể dịch chuyển được mà pháp luật quy định không phải đăng ký, tiếp tục chuyển giao cho một người ngay thẳng, trung thực khi giao dịch và bằng một hợp đồng như tặng cho, gửi giữ thì hợp đồng tiếp theo này cũng bị vô hiệu.
Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng đối với người tiếp theo không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ví dụ, A gửi giữ ở nhà B (đại lý cà phê) một tấn cà phê. B đem 1 tấn cà phê tặng cho cho C. A kiện C buộc C trả 1 tấn cà phê lại cho A.
C được xem là “người thứ ba ngay tình”, nhưng hợp đồng giữa B và C là hợp đồng không có đền bù. Do đó, hợp đồng giữa C và B là vô hiệu và C trả lại cho A 1 tấn cà phê. Thứ hai, đối tượng của giao dịch là tài sản có thể di dời, dịch chuyển được mà bị lấy trộm, bị mất hoặc bị lấy đi mà không được người chủ của tài sản đó đồng ý, mà tiếp tục đem giao dịch với một người khác, người này dù đã mua bằng tiền hoặc trao đổi bằng hiện vật thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vô hiệu21. Ví dụ, B lấy trộm 1 tấn cà phê của A, B đem tấn cà phê bán cho C.
C không biết 1 tấn cà phê là tài sản trộm cắp mà có, C phải trả lại 1 tấn cà phê cho A. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu khi có người thứ ba ngay tình cần được bảo vệ, Điều 167 BLDS năm 2015 là quyền của chủ sở hữu tài sản: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. 21 Điều 167 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu. 20 Điều 167 BLDS năm 2015 đã dự liệu một trường hợp ngoại lệ mà người chủ thực sự đối với tài sản không được đòi lại tài sản đó là tài sản được dịch chuyển, di dời thông qua ý chí của họ và người tiếp theo có được tài sản thông qua việc mua bán, trao đổi “hợp đồng có đền bù”, thì người tiếp theo đó được Bộ luật Dân sự bảo vệ.
Người đang chiếm hữu phải chứng minh về hành vi chiếm hữu ngay tình của mình. Việc chứng minh này dựa trên hai cơ sở: Thứ nhất, đây là loại tài sản có thể di dời được, tài sản không phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó người nhận chuyển giao không buộc phải biết người chuyển giao tài sản cho mình là chủ tài sản không mà chỉ cần người đó đang nắm giữ và sử dụng tài sản như là chủ sở hữu đối với tài sản đó; ví dụ, như ông A đang có 1 tấn cà phê tại nhà, đang có con bò ngoài chuồng, đang sử dụng tủ lạnh, tivi, điện thoại … Thứ hai, việc chuyển giao tài sản được tiến hành rõ ràng, người nhận và người giao thực hiện công khai có sự chứng kiến của người khác, không che dấu, không lén lút và giá trị chuyển giao được thỏa thuận theo giá thị trường tại thời điểm đó. Khi người thứ ba minh chứng được sự ngay tình của mình thì không cần phải trả lại tài sản đó. Quy định này là cách thức của các nhà làm luật buộc người đang nắm giữ tài sản phải thận trọng hơn và buộc họ phải có cách bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế hành vi vi phạm của người được người khác đối với tài sản của mình, tự mình bảo vệ tài sản của mình.
Bảo vệ người thứ ba trong trường hợp này là chính đáng, bởi nó không chỉ bảo đảm quyền lợi các bên tham gia giao dịch mà còn giúp cho các chủ thể yên tâm khi tham gia giao dịch, thúc đẩy phát triển giao lưu dân sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trường hợp tài sản không đăng ký quyền sở hữu Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong quan hệ dân sự là một nội dung nhận được khá nhiều sự chú ý của các chuyên gia trong quá trình sửa đổi BLDS năm 2005.