Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Sơn Hà, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 938 01 07), tại Trường Đại học Luật – Đại học Huế vào năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Duyên Thủy và PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ô nhiễm môi trường nước, không khí và tiếng ồn tại Việt Nam trong những năm qua gia tăng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế. Theo các tài liệu được trích dẫn trong luận án, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia ô nhiễm không khí nhất thế giới, tổn thất do ô nhiễm môi trường ước tính chiếm tới 5,5% GDP và gây thiệt hại trên 780 triệu USD đối với sức khỏe cộng đồng mỗi năm. Cùng với quá trình phát triển kinh tế, mô hình khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) đóng góp lớn vào việc thu hút đầu tư và giải quyết việc làm (tính đến tháng 6 năm 2019, cả nước có 38 KKT được thành lập, thu hút hàng ngàn tỷ đồng và giải quyết việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động).

Tuy nhiên, hoạt động tập trung của các nhà máy công nghiệp, dịch vụ và dân cư trong KKT tạo ra khối lượng chất thải lớn, đe dọa tài nguyên đất, nước và đa dạng sinh học. Thực tiễn sự cố môi trường biển năm 2016 do Công ty Formosa tại KKT Vũng Áng (Hà Tĩnh) gây ra, làm hải sản chết lan rộng dọc bờ biển các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, cho thấy tính chất nghiêm trọng của các rủi ro môi trường xuất phát từ KKT.

Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) đã được ban hành (Luật BVMT năm 2014, các Nghị định số 80/2014/NĐ-CP, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP, Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT), các quy định áp dụng cho KKT vẫn bộc lộ nhiều điểm chưa đồng bộ, chồng chéo và thiếu cơ chế quản lý đặc thù. Do đó, khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn là xây dựng cơ sở lý luận toàn diện và đánh giá thực trạng pháp luật BVMT trong KKT theo toàn bộ chu trình hoạt động của KKT, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về BVMT trong hoạt động của các KKT, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành tại Việt Nam.

Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ thực trạng nghiên cứu của các công trình tiêu biểu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài để xác định nội dung kế thừa và phát triển chuyên sâu.
  2. Làm rõ lý luận pháp luật về BVMT trong hoạt động của KKT (khái niệm, vai trò, nguyên tắc điều chỉnh, nội dung pháp luật).
  3. Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành, chỉ rõ kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân hạn chế.
  4. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về BVMT trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam hiện nay.
  5. Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về BVMT trong KKT.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Pháp luật về BVMT trong hoạt động của KKT là gì và nội dung của pháp luật BVMT trong hoạt động của KKT gồm những quy phạm nào?
  2. Thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về BVMT trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  3. Những giải pháp nào cần phải thực hiện để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BVMT trong hoạt động của KKT ở Việt Nam trong xu thế hiện nay?

Hệ thống 4 giả thuyết nghiên cứu được đặt ra:

  1. Cơ sở lý luận của pháp luật BVMT trong hoạt động của KKT ở Việt Nam chưa đầy đủ, toàn diện, dẫn đến việc xây dựng khung pháp luật còn hạn chế.
  2. Các quy định pháp luật về BVMT trong hoạt động của KKT còn bất cập, thiếu sót, chưa có tính hệ thống, dẫn đến khó khăn trong thực hiện.
  3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về BVMT trong hoạt động của KKT còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường.
  4. Chưa có phương hướng rõ ràng, xuyên suốt, lâu dài; các giải pháp chưa đồng bộ và thiếu tính đặc thù đối với KKT.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học, học thuyết lý luận về BVMT trong KKT; các quy định pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, pháp luật một số quốc gia; thực tiễn thi hành pháp luật BVMT tại các KKT ở Việt Nam thông qua các trường hợp điển hình, ý kiến của cán bộ quản lý và người dân.
  • Phạm vi nội dung: Luận án không phân tích pháp luật theo các hình thức chế tài truyền thống (dân sự, hình sự, hành chính chung) mà tiếp cận theo chu trình quản lý dự án gồm 4 nhóm nội dung: (i) Pháp luật về BVMT giai đoạn chuẩn bị xây dựng KKT; (ii) Pháp luật về BVMT giai đoạn thi công xây dựng KKT; (iii) Pháp luật về BVMT giai đoạn hoạt động của KKT; (iv) Pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Luận án chỉ tập trung vào các quy định đặc thù của KKT, không nghiên cứu sâu các quy định chung của các khu chức năng đô thị, du lịch.
  • Phạm vi không gian: Các KKT trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đó thành 2 nhóm chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về khu kinh tế

  • Cù Chí Lợi (2013), Khu kinh tế tự do: những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội: Phân tích kinh nghiệm quốc tế và lộ trình phát triển KKT tự do tại Việt Nam.
  • Trần Báu Hà (2017), Luận án Quản lý nhà nước đối với khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Khảo cứu kinh nghiệm quản lý cấp tỉnh đối với KKT cửa khẩu Lao Bảo, Cha Lo để áp dụng cho Cầu Treo.
  • Meng Guangwen (2003), Luận án The Theory and Practice of Free Economic Zones: (A Case Study of Tianjin, People’s Republic of China), Đại học Heidelberg (Đức): Tổng kết lịch sử hình thành KKT tự do từ thế kỷ 16 và phân tích trường hợp KKT công nghệ Thiên Tân.
  • Nhóm tư vấn môi trường chính sách thuộc tổ chức FIAS (Ngân hàng Thế giới): Đánh giá tác động kinh tế, xã hội, môi trường của các đặc khu kinh tế (ĐKKT) trên phạm vi toàn cầu.
  • Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Phát triển đặc khu kinh tế, kinh nghiệm và cơ hội (UBND tỉnh Quảng Ninh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014): Đề cập đến chính sách, quy hoạch và quản lý ĐKKT.
  • Samuel Hall (2015), Báo cáo Special Economic Zones in Afghanistan. A new business and economic deal for 2020: Phân tích cơ chế thu hút đầu tư qua mô hình KKT đặc biệt.
  • Dechun Huang, Vu Thi Van, Md. Ekram Hossain, Zhengqi He (2017), công trình trên Open Journal of Social Sciences: Phân tích tác động tăng trưởng kinh tế của Khu thương mại tự do thí điểm Thượng Hải.

Nhóm các công trình nghiên cứu pháp luật bảo vệ môi trường

  • Nghiên cứu chung về pháp luật BVMT: Trần Hiếu Nhuệ, Ưng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái (2011) về quản lý chất thải rắn; Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013) về công cụ kinh tế trong BVMT; Nguyễn Thị Tố Uyên (2013) về trách nhiệm pháp lý môi trường; Lê Kim Nguyệt (2015) về kiểm soát ô nhiễm làng nghề; Bùi Đức Hiển (2016) về kiểm soát ô nhiễm không khí; Võ Trung Tín (2019) về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; Vũ Ngọc Hà (2019) về xử lý vi phạm hành chính môi trường; Vũ Thu Hạnh (2010) về tuân thủ, cưỡng chế và giám sát; các bài báo của Mai Hải Đăng (2012), Nguyễn Văn Phương (2013), Bùi Đức Hiển (2013), Vũ Thu Hạnh và Nguyễn Minh Đức (2014).
  • Nghiên cứu gắn với KKT và KCN: Đoàn Hải Yến (2016) về phát triển bền vững KKT ven biển Đồng bằng sông Hồng; Doãn Hồng Nhung và Nguyễn Thị Bình (2016) về xử phạt vi phạm hành chính môi trường tại KCN; Vũ Thanh Ca (2013) về đa dạng sinh học KKT Dung Quất; Luận án Wastewater Management in Industrial Zones of the Vietnamese Mekong Delta (2014) khảo sát quản lý nước thải tại 4 tỉnh sông Hậu; Vũ Thị Duyên Thủy (2011) và Doãn Hồng Nhung (2015) về pháp luật môi trường KCN; các luận văn của Luyện Thị Thùy Nhung (2013), Nguyễn Thị Thu Hiền (2014 tại KKT Nghi Sơn), Lê Thị Bích Thủy (tại KKT Vân Đồn).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Tác giả xác định 6 vấn đề còn bỏ ngỏ từ các nghiên cứu trước: (1) Thiếu công trình làm rõ cơ sở lý luận chuyên biệt về pháp luật BVMT trong KKT; (2) Chưa có nghiên cứu đối sánh toàn diện nội dung pháp luật KKT trong nước với các điều ước quốc tế và luật pháp các nước; (3) Thiếu nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng áp dụng pháp luật BVMT KKT tại Việt Nam; (4) Thiếu hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với tính chất đặc thù của KKT; (5) Nhiều công trình trước đó phân tích dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực; (6) Chưa có công trình so sánh bài bản kinh nghiệm quản trị môi trường KKT của các nước để rút ra bài học cụ thể cho Việt Nam. Luận án định vị là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về pháp luật BVMT trong hoạt động của KKT tại Việt Nam theo chu trình 3 giai đoạn quản lý kết hợp cơ chế thanh tra, xử lý.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết nền tảng

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các lý thuyết kinh tế và môi trường:

  • Lý thuyết về tính hiệu quả kinh tế theo quy mô (Economies of Scale): Giải thích quy luật phân công lao động và hiệu suất quy mô trong việc tập trung nguồn lực phát triển KKT.
  • Lý thuyết thương mại mới và lợi thế cạnh tranh quốc gia (Paul Krugman, Michael Porter): Giải thích sự tập trung sản xuất công nghiệp vào các không gian địa lý nhất định nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất toàn cầu.
  • Lý thuyết địa lý kinh tế mới và hiệu quả tập trung kinh tế (Alfred Marshall 1890, Jaffe 1993, Holmes 1999, Costa & Kahn 2001): Chỉ ra 3 động lực hình thành các cụm công nghiệp gồm chia sẻ đầu vào sản xuất, cộng gộp thị trường lao động và lan tỏa tri thức.
  • Lý thuyết hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn với phát triển bền vững (P. Nordhaus, Manfred Kuhn, IUCN 1980): Phân tích sự cân bằng giữa đầu vào, đầu ra kinh tế với chi phí môi trường và xã hội.
  • 4 lý thuyết định hướng nghiên cứu pháp lý của đề tài: (1) Lý thuyết coi trọng phòng ngừa là chính; (2) Lý thuyết bảo đảm phát triển bền vững quốc gia; (3) Lý thuyết bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành (ghi nhận tại Hiến pháp và luật quốc tế); (4) Lý thuyết về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng của Triết học Mác – Lênin và bám sát đường lối, chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường thời kỳ công nghiệp hóa.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt để hệ thống hóa lý luận, đánh giá quy định pháp luật và xây dựng luận điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để so sánh các quan điểm học thuật, đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với quy định quốc tế và phân biệt BVMT chung với BVMT trong KKT.
  • Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học: Tìm hiểu ý kiến của cán bộ quản lý nhà nước và người dân tại các KKT (khảo sát thực tế 135 người dân sinh sống trong và ven KKT).
  • Phương pháp tọa đàm khoa học: Tổ chức trao đổi với các nhà khoa học, chuyên gia quản lý trong lĩnh vực môi trường và KKT.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Phỏng vấn bán cấu trúc đối với cán bộ quản lý môi trường, cán bộ Ban quản lý KKT và người dân.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu sử dụng gồm văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Luật BVMT 2005, 2014; các Nghị định và Thông tư hướng dẫn), các điều ước quốc tế (Công ước Kyoto 1973), quy định pháp luật của Singapore, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản; số liệu thống kê phát triển KKT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; số liệu khảo sát xã hội học và hồ sơ thực tế các vụ việc ô nhiễm tại KKT Việt Nam.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hai trục nội dung: lý luận về KKT và pháp luật về BVMT. Tác giả chỉ ra 6 nhóm vấn đề còn bỏ ngỏ, xác định 3 câu hỏi nghiên cứu, 4 lý thuyết tiếp cận, 4 giả thuyết nghiên cứu và dự kiến kết quả đạt được nhằm định hình khung phân tích cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc pháp lý:

1. Khái niệm và đặc điểm của khu kinh tế

KKT là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh. Tác giả phân tích 6 đặc điểm nhận diện:

  • Có ranh giới địa lý xác định, tạo không gian đầu tư riêng biệt.
  • Diện tích lớn, đa chức năng (khu phi thuế quan, KCN, KCX, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư).
  • Mục tiêu kép: vừa phát triển kinh tế, vừa bảo đảm an ninh quốc phòng và bố trí dân cư sinh sống (khác với KCN, KCX, KCNC).
  • Khung pháp luật thành lập và vận hành có cơ chế ưu đãi và quản lý riêng biệt.
  • Vị trí địa lý thường nằm ở dải ven biển hoặc khu vực cửa khẩu biên giới.
  • Đòi hỏi yêu cầu BVMT khắt khe do quy mô xả thải lớn và tính chất phức tạp của các ngành nghề tập trung.

2. Khái niệm hoạt động của khu kinh tế và bảo vệ môi trường trong KKT

  • Hoạt động của KKT: Là tổng thể các hoạt động của các chủ thể từ quá trình chuẩn bị đầu tư xây dựng, triển khai thi công xây dựng đến toàn bộ quá trình vận hành, khai thác KKT.
  • Bảo vệ môi trường trong hoạt động của KKT: Là những hoạt động có mục đích của các chủ thể từ giai đoạn chuẩn bị, xây dựng đến suốt quá trình hoạt động của KKT nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái và phục hồi môi trường.

3. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Luận án phân tích mô hình pháp luật môi trường tại KKT của Singapore (Đạo luật Khu Thương mại tự do 1969), Trung Quốc (Luật Đặc khu kinh tế 2005 và chính sách khắc phục tổn thất môi trường tương đương 8% GDP), Nga (Luật Thuế 1993), Hàn Quốc và Nhật Bản.

Từ đó, 3 bài học kinh nghiệm được rút ra:

  1. Phải quy hoạch và đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật BVMT ngay từ giai đoạn đầu.
  2. Thiết lập tiêu chí sàng lọc, lựa chọn và tiếp nhận nhà đầu tư thứ cấp gắn với công nghệ sạch.
  3. Hoàn thiện mô hình bộ máy quản lý nhà nước đủ thẩm quyền giám sát môi trường tại KKT.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế ở Việt Nam

Tác giả phân tích thực trạng pháp lý và thực tiễn thi hành qua 4 nhóm nội dung:

Giai đoạn / Lĩnh vực Nội dung quy định pháp luật hiện hành Bất cập, vướng mắc pháp lý và thực tiễn
1. Chuẩn bị đầu tư xây dựng - Lập báo cáo ĐTM và ĐMC.
- Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật BVMT (thoát nước, xử lý nước thải, CTR, cây xanh, trạm quan trắc).
- Chồng chéo trách nhiệm lập quy hoạch giữa chủ đầu tư hạ tầng và cơ quan quản lý.
- Thiếu tiêu chuẩn thiết kế tỷ lệ mạng lưới cây xanh cách ly.
- Chưa quy định rõ khoảng cách an toàn bố trí khu xử lý chất thải độc hại.
- Chưa rõ trách nhiệm lắp đặt hệ thống quan trắc đồng thời với hạ tầng.
2. Thi công xây dựng - Trách nhiệm BVMT trong giải phóng mặt bằng, san nền.
- Thi công công trình hạ tầng BVMT tập trung.
- Chồng chéo trách nhiệm thi công hạ tầng BVMT.
- Phát sinh ô nhiễm bụi, tiếng ồn, rung chấn và xói mòn, sạt lở nhưng thiếu cơ chế kiểm soát giám sát thường xuyên.
3. Vận hành hoạt động - Trách nhiệm vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình xử lý chất thải.
- Quy định đấu nối và nộp phí BVMT.
- Điều kiện bổ sung, mở rộng KKT.
- Bất cập trong phân định trách nhiệm duy tu, bảo dưỡng khi có sự cố ô nhiễm.
- Quy định điều kiện mở rộng KKT còn mang tính định tính.
- Thiếu chế tài đối với Ban quản lý KKT khi cấp phép dự án nguy cơ ô nhiễm cao.
4. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm - Thẩm quyền của Ban quản lý KKT, Sở TN&MT, Thanh tra chuyên ngành, Cảnh sát môi trường. - Chồng chéo thẩm quyền kiểm tra, thanh tra giữa các cơ quan.
- Ban quản lý KKT thiếu thẩm quyền xử phạt trực tiếp.
- Cơ chế phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ, xử lý vi phạm chưa kịp thời.

Tổng hợp từ số liệu phân tích tại Chương 2 và Chương 3 của luận án: Tính đến tháng 6/2019, trong số 38 KKT đã thành lập (gồm 18 KKT ven biển diện tích hơn 845 nghìn ha và 21 KKT cửa khẩu), có 38 KCN nằm trong KKT với diện tích 15,2 nghìn ha. Việc nhiều KKT tiếp nhận các dự án sản xuất khi hạ tầng xử lý nước thải chưa hoàn thiện đã dẫn tới nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng.

Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế ở Việt Nam

1. Bốn phương hướng hoàn thiện pháp luật

  • Đảm bảo hiệu quả của nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước vào hạ tầng BVMT KKT.
  • Đảm bảo tính chặt chẽ, đồng bộ và ổn định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
  • Đảm bảo sự cân bằng hợp lý giữa kiểm soát nhà nước và tôn trọng quyền tự quyết của nhà đầu tư.
  • Đảm bảo nguyên tắc quản lý tập trung gắn liền với cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng.

2. Các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật

  • Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Hoàn thiện quy định về lập, thẩm định ĐMC/ĐTM trong KKT; quy định bắt buộc về tỷ lệ cây xanh và khoảng cách an toàn môi trường đối với các khu xử lý chất thải nguy hại; quy định trách nhiệm bắt buộc lắp đặt hệ thống trạm quan trắc tự động kết nối dữ liệu liên tục.
  • Giai đoạn thi công xây dựng: Quy định rõ trách nhiệm pháp lý của chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật KKT trong việc hoàn thành trạm xử lý nước thải tập trung trước khi tiếp nhận dự án thứ cấp; quy định quy chuẩn kỹ thuật BVMT trong khâu giải phóng mặt bằng và san nền.
  • Giai đoạn vận hành hoạt động: Sửa đổi quy định về điều kiện mở rộng KKT (bắt buộc KKT hiện hữu phải lấp đầy và vận hành đạt chuẩn hạ tầng BVMT mới được mở rộng); bổ sung trách nhiệm pháp lý của Ban quản lý KKT trong việc thẩm định cấp phép dự án đầu tư.
  • Về thanh tra, kiểm tra: Phân định ranh giới thẩm quyền giữa Ban quản lý KKT và Sở Tài nguyên và Môi trường; bổ sung thẩm quyền lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính về môi trường cho Ban quản lý KKT.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

  • Nâng cao nhận thức và trách nhiệm pháp lý của nhà đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp.
  • Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát độc lập của cộng đồng dân cư trong KKT.
  • Xây dựng cơ chế tài chính bền vững: trích lập quỹ BVMT, áp dụng cơ chế tự chủ tài chính cho hoạt động quan trắc và xử lý chất thải tại KKT.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án xây dựng khái niệm khoa học về "Hoạt động của KKT" theo nghĩa rộng, tiếp cận theo chu trình quản lý xuyên suốt 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư xây dựng, thi công xây dựng và vận hành hoạt động.
  2. Xây dựng khái niệm và chỉ rõ 6 đặc điểm nhận diện của hoạt động "BVMT trong hoạt động của KKT" và "Pháp luật về BVMT trong hoạt động của KKT".
  3. Xác lập cấu trúc nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động BVMT KKT theo tiến trình dự án kết hợp với chế định thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
  4. Tổng kết kinh nghiệm quốc tế (Singapore, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản) và rút ra 3 bài học khảo cứu có giá trị ứng dụng cho việc hoàn thiện thể chế tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phân tích, chỉ rõ 11 điểm bất cập trong các quy định pháp luật thực định Việt Nam (về ĐMC/ĐTM, quy hoạch hạ tầng BVMT, quy chuẩn cây xanh cách ly, trạm quan trắc tự động, điều kiện mở rộng KKT và thẩm quyền của Ban quản lý KKT).
  2. Cung cấp bức tranh thực trạng thi hành pháp luật tại 38 KKT trên cả nước, chỉ ra nguyên nhân của các tồn tại trong công tác kiểm soát ô nhiễm và vận hành hạ tầng kỹ thuật môi trường.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi Luật BVMT và các văn bản hướng dẫn thi hành, cùng các giải pháp tổ chức thực hiện về bộ máy, kinh phí và thanh tra liên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trong mốc thời gian từ năm 2010 đến năm 2020. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định mang tính đặc thù của KKT, chưa đi sâu vào các quy định chung của các khu chức năng chuyên biệt khác như khu đô thị, khu du lịch sinh thái nằm bên trong KKT.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu việc thích ứng của hệ thống KKT với các quy định mới của Luật BVMT năm 2020 (khi luật này có hiệu lực); nghiên cứu cơ chế pháp lý phát triển mô hình KKT sinh thái, kinh tế tuần hoàn và áp dụng các công cụ kinh tế chuyên sâu trong quản trị môi trường KKT tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước: Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc rà soát, sửa đổi quy định pháp luật về KKT và BVMT.
  • Ban quản lý các KKT và KCN: Tham khảo cơ sở pháp lý và giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành, thẩm định dự án đầu tư và phối hợp kiểm tra môi trường.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy các học phần Luật Môi trường, Luật Kinh tế, Quản lý tài nguyên và môi trường.
  • Các nhà đầu tư phát triển hạ tầng KKT: Nắm bắt nghĩa vụ pháp lý về quy hoạch, thiết kế, thi công và vận hành các công trình BVMT theo chu trình dự án.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "hoạt động của khu kinh tế" theo phạm vi như thế nào?

Luận án định nghĩa hoạt động của KKT theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ quá trình của các chủ thể từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng, giai đoạn triển khai thi công xây dựng cho đến suốt quá trình vận hành, khai thác KKT nhằm đạt được hiệu quả thành lập và phát triển KKT bền vững.

2. Số lượng và quy mô các khu kinh tế tại Việt Nam được luận án thống kê ra sao?

Tính đến tháng 6 năm 2019, cả nước có 38 KKT được thành lập, bao gồm 18 KKT ven biển với tổng diện tích mặt đất và mặt nước hơn 845 nghìn ha và 21 KKT cửa khẩu (trong giai đoạn 2015-2020 bổ sung 3 KKT cửa khẩu là La Lay, Đắk Per, Đắk Ruê). Trong các KKT có 38 KCN với tổng diện tích khoảng 15,2 nghìn ha, thu hút nguồn vốn đầu tư lớn và tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động.

3. Những bất cập pháp lý lớn nhất trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng KKT là gì?

Các bất cập chủ yếu gồm: quy định chồng chéo về trách nhiệm lập quy hoạch và lắp đặt hạ tầng kỹ thuật BVMT; bất cập trong quy định về trách nhiệm thực hiện ĐMC; thiếu quy định hướng dẫn thiết kế mạng lưới cây xanh cách ly; không có quy định cụ thể về khoảng cách an toàn đối với khu xử lý chất thải độc hại; và chưa xác định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường đồng thời với hạ tầng chung.

4. Vì sao công tác BVMT trong KKT đòi hỏi tính khắt khe hơn so với các cơ sở sản xuất riêng lẻ?

KKT là khu vực có diện tích lớn, tập trung nhiều loại hình công nghiệp, dịch vụ và có thể có cộng đồng dân cư sinh sống bên trong hoặc liền kề. Hoạt động tại KKT xả thải khối lượng lớn chất thải công nghiệp và sinh hoạt. Nếu không kiểm soát chặt chẽ từ khâu chuẩn bị và thi công, khi xảy ra sự cố môi trường thì phạm vi tác động sẽ rất rộng, gây thiệt hại nghiêm trọng và chi phí khắc phục rất phức tạp (như bài học sự cố Formosa năm 2016).

5. Bài học kinh nghiệm quốc tế nào được luận án rút ra để áp dụng cho Việt Nam?

Luận án rút ra 3 bài học chính từ kinh nghiệm của Singapore, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc và Nhật Bản: (1) Phải đầu tư đồng bộ và hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật BVMT ngay từ khâu đầu; (2) Phải xây dựng chính sách sàng lọc, tiếp nhận dự án đầu tư có công nghệ sạch; (3) Phải kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đủ thẩm quyền thanh tra, giám sát môi trường tại KKT.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Sơn Hà là công trình nghiên cứu hệ thống về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2010–2020. Bằng việc kết hợp các lý thuyết kinh tế quy mô, địa lý kinh tế và các nguyên tắc luật môi trường, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, chỉ ra 11 nhóm bất cập pháp lý qua 4 giai đoạn quản lý dự án. Hệ thống phương hướng và giải pháp do luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả quản trị môi trường tại các khu kinh tế ở Việt Nam.