Chương 1: Đảng bộ huyện Từ Liêm (Hà Nội) ãnh đạo bảo vệ môi trường sinh thái từ năm 1996 đến năm 2000 Chương 2: Đảng bộ huyện Từ Liêm (Hà Nội) ãnh đạo bảo vệ môi trường sinh thái từ năm 2001 đến năm 2010 Phần kết luận có nhận xét, đánh giá tổng quát tình hình môi trường của huyện Từ Liêm (Hà Nội), có chỉ ra những vấn đề cần giải quyết, những nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cụ thể đối với Huyện ủy, chính quyền và nhân dân Từ Liêm trong công tác bảo vệ môi trường. Ngoài ra, bố cục của luận văn còn có thêm phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. [6] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CHỦ TRƢƠNG, CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TỪ LIÊM (HÀ NỘI) VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG SINH THÁI TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1.
Khái quát chung 1. Khái quát về thực trạng môi trường thế giới và Việt Nam Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước.
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ v nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định. ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, ng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm.
Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. Ngo i ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nh ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như t i nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. [7] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất ượng cuộc sống con người.
Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nh trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đo n, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không th nh văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi h nh v các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu môi trường theo khía cạnh môi trường tự nhiên tác động tới cuộc sống của con người. Sinh thái theo tiếng Hy Lạp “OIKOS” nghĩa nh ở, nơi cư trú, sinh sống.
Nói đến sinh thái, chúng ta thường nói tới hệ sinh thái. Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó. Từ đó có thể suy ra: Môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan tới sự sống của cơ thể. Đối với con người môi trường sinh thái là tất cả các điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ v hữu cơ, có iên quan tới sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Hiện nay vấn đề môi trường sinh thái m con người đang tập trung nghiên cứu để tìm ra phương án tối ưu giải quyết nó thực chất là vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ở nước ta cũng vậy con người cùng với quá trình phát triển kinh tế đã v đang tác động sâu sắc tới môi trường sinh thái, do đó Đảng v Nh nước đã có những chủ trương, đường lối, chính sách thiết thực nhằm bảo vệ môi trường sinh thái. “Nếu như phát triển được đánh giá bởi sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ thì bảo vệ lại là sự gìn giữ bảo tồn cái cũ tránh cho nó những tác động xấu đồng thời có các biện pháp cải thiện nó cho phù hợp với nhu cầu của con người” [37 – tr. Trái đất của chúng ta được nhiều người trìu mến gọi là “hành tinh xanh”.
Tuy nhiên hiện nay “do sự thiếu hiểu biết, do sự tham lam và do nhu cầu cho sự sinh tồn, phát triển ng y c ng cao m con người đã khai thác v t n phá trái đất tới mức báo [8] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động” [27 – tr. Theo Quỹ bảo vệ thiên nhiên hoang dã thế giới (WWF), nhân loại hiện nay đang sử dụng vượt quá 50% nguồn t i nguyên thiên nhiên m trái đất có thể cung cấp. Từ năm 2008, nhân oại đã cần tới 18,2 tỷ ha đất nhưng trái đất chỉ có khoảng 12 tỷ ha đất có thể sử dụng để sinh sống và canh tác. Nếu thế giới không nhanh chóng thay đổi cách thức sử dụng t i nguyên thì v o năm 2030, ngay cả 2 trái đất như hiện nay cũng không thể đáp ứng được nhu cầu.
Nghiên cứu của WWF cũng cảnh báo kể từ năm 1970 đến năm 2008, 28% đa dạng sinh học của trái đất đã biến mất. Số ượng và mật độ của 2.688 lo i động vật ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đa dạng sinh học ở các khu vực nhiệt đới đã giảm tới 61% và ở các khu vực ôn đới là 31%. Trái đất đang bị tàn phá nặng nề. Sự t n phá đó m cho môi trường bị tổn hại nặng, thậm chí nhiều nơi đến mức không thể phục hồi được.
Việc môi trường bị t n phá đã tác động trở lại tới cuộc sống của con người. Các hiện tượng thiên nhiên ngày càng dữ dội và bất thường hơn. Một trong những lo ngại lớn nhất hiện nay của toàn cầu là sự nóng lên của trái đất mà hệ quả lớn nhất của nó là hiện tượng nước biển dâng đe dọa nhấn chìm 1/6 diện tích trái đất trong 1 thế kỷ tới; các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như E Nino, hạn hán, ũ ụt. Hiện nay, thế giới đang phải đương đầu với 5 cuộc khủng hoảng lớn về dân số, ương thực, năng ượng, t i nguyên, sinh thái.
Năm cuộc khủng hoảng n y đều liên quan chặt chẽ với môi trường. Nó thể hiện “mối quan hệ mật thiết giữa con người, xã hội và tự nhiên. Nó cho ta nhận ra một điều môi trường vừa là tác nhân vừa là nạn nhân của nền kinh tế toàn cầu. Mỗi một tác động không chú trọng chiều sâu có thể khơi nguồn cho những mối đe dọa nguy hiểm m con người có thể không ngờ tới.
Vì thế song song với việc phát triển kinh tế, thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của mỗi cá nhân uôn được đảm bảo chúng ta phải biết giữ gìn môi trường sinh thái” [60 – tr. Đứng trước những hiểm họa về môi trường, cộng đồng quốc tế đã có những văn bản mang tính pháp ý để thực hiện bảo vệ môi trường sinh thái. Sau hơn 30 năm kể từ Hội nghị đầu tiên về môi trường của thế giới (tại Stockholm – Thụy Điển năm 1972) đến nay, cộng đồng thế giới đã có nhiều nỗ lực để đưa vấn đề môi trường v o các chương trình nghị sự ở cấp quốc tế và quốc gia. Tuy vậy, hiện trạng [9] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trường toàn cầu mới được cải thiện không đáng kể.
Môi trường chưa được lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Dân số toàn cầu tăng nhanh, sự nghèo đói, sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát thải quá mức “khí nh kính” là những vấn đề bức xúc có tính phổ biến trên toàn cầu. Trong tuyên bố Johannesburg về phát triển bền vững năm 2002 của Liên Hợp Quốc đã khẳng định về những thách thức mà nhân loại đang v sẽ phải đối mặt có nguy cơ to n cầu : Môi trường toàn cầu tiếp tục trở nên tồi tệ; suy giảm đa dạng sinh học tiếp diễn, trữ ượng cá tiếp tục giảm sút, sa mạc hóa cướp đi ng y c ng nhiều đất đai m u mỡ, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã hiển hiện rõ ràng; thiên tai ngày càng nhiều và ngày càng khốc liệt; các nước đang phát triển trở nên dễ bị tổn hại hơn. Ô nhiễm không khí, nước và biển tiếp tục lấy đi cuộc sống thanh bình của hàng triệu người.
Từ năm 1972 đến nay, với sự nỗ lực từ nhiều cá nhân và tổ chức quốc tế, nhiều hội nghị quốc tế về bảo vệ môi trường đã diễn ra, từ đó dẫn tới sự ra đời của một số văn bản mang tính quốc tế về bảo vệ môi trường như: Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn năm 1985, Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 1992, Nghị định thư Kyôtô năm 1997. Các công ước và nghị định trên về cơ bản có sự thống nhất về việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của các quốc gia dân tộc và cộng đồng quốc tế về bảo vệ môi trường m trước hết là việc nhận thức đúng về vai trò, tác động của biên đổi môi trường tới sự sống của toàn nhân loại; việc cắt giảm các chất thải, khí thải độc hại v o môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, từng bước cải thiện và nâng cao chất ượng môi trường sống của nhân loại.