Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoàn thiện quy định pháp luật dân sự Việt Nam về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín" được thực hiện bởi tác giả Lê Trung Hiếu (MSV: 451809), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Minh Thư tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024).

Về bối cảnh thực tiễn, danh dự, nhân phẩm và uy tín là các giá trị tinh thần gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân, thuộc nhóm quyền nhân thân cơ bản được pháp luật dân sự bảo vệ tuyệt đối. Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã dành Mục 2 Chương III để quy định về quyền nhân thân của cá nhân, trong đó quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được ghi nhận cụ thể tại Điều 34. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật trên thực tế để bảo đảm quyền này còn nhiều bất cập do các quy định hiện hành chưa thực sự rõ ràng và đầy đủ. Pháp luật dân sự chưa có hướng dẫn định nghĩa cụ thể về nội hàm quyền, chưa làm rõ người có quyền sở hữu những quyền năng cụ thể nào, đồng thời thiếu quy định mang tính hệ thống để nhận biết các dạng hành vi xâm phạm. Sự thiếu sót này dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền lúng túng, áp dụng pháp luật không thống nhất, còn bản thân chủ thể quyền chưa nhận thức đầy đủ về quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây phần nào chưa theo kịp các thay đổi của quy định pháp luật và tính chất phức tạp của các phương tiện truyền thông mới.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đánh giá một cách khách quan thực tiễn quy định và thực tiễn thi hành pháp luật dân sự Việt Nam về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hoạt động thực thi. Để đạt được mục đích này, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày lý luận chung về quyền nhân thân liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân theo pháp luật dân sự.
  2. Phân tích nội dung pháp luật liên quan đến quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân theo pháp luật dân sự; đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng nhằm nắm bắt các ưu điểm và nhược điểm.
  3. Đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân theo pháp luật dân sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong lĩnh vực dân sự; trọng tâm là các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành quyền của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định cơ bản liên quan đến quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong pháp luật dân sự Việt Nam (khái niệm, đặc điểm pháp lý, nội dung quyền, hành vi xâm phạm, phương thức bảo vệ); có đối chiếu với pháp luật dân sự của Pháp và Trung Quốc.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam; số liệu thực tiễn được thu thập chủ yếu tại hai địa bàn là tỉnh Phú Thọ và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hệ thống quy phạm từ BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đến BLDS năm 2015; số liệu về các vụ án liên quan được theo dõi từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp; vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

Văn bản pháp luật và văn kiện được sử dụng làm cơ sở pháp lý bao gồm:

  • Văn kiện và công ước quốc tế: Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người năm 1948 (UDHR - Điều 1, 3, 5); Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR - Điều 7, 17); Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (CESCR).
  • Pháp luật nước ngoài: Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 16 Chương II); Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020 (Điều 991, 994, 1000).
  • Pháp luật Việt Nam: Hiến pháp qua các thời kỳ (1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 - Điều 16, 20, 30); BLDS năm 1995 (Điều 33), BLDS năm 2005 (Điều 3, 37, 605), BLDS năm 2015 (Điều 3, 13, 34, 105, 585, 592, 612, 651, 687); Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Điều 191, 203); Luật Báo chí (Điều 42); Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 30); Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 (Điều 10, 16); Nghị định số 15/2020/NĐ-CP (Điều 101); Nghị quyết số 02/2022/NĐ-CP (Điều 7, 9); Quyết định số 874/QĐ-BTTTT năm 2021 ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo từng chương:

  • Tại Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ các khái niệm, đặc điểm; phương pháp so sánh luật học để đối chiếu các quan điểm học thuật trong nước, quốc tế và quy định pháp luật của một số quốc gia.
  • Tại Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp để đánh giá nội dung quy định pháp luật hiện hành và các nguyên tắc pháp lý về bảo vệ quyền nhân thân.
  • Tại Chương 3: Áp dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh nhằm đánh giá bức tranh thực tiễn thực hiện quyền, nhận diện hạn chế và xây dựng hệ thống giải pháp.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các công trình khoa học (luận văn thạc sĩ, giáo trình, bài báo chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao) và số liệu xét xử các vụ án dân sự về bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín từ năm 2010 đến nay tại Phú Thọ và TP. Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Khái quát về danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong pháp luật dân sự

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về các khái niệm cơ bản cấu thành quyền nhân thân:

  • Danh dự là sự coi trọng, đánh giá của dư luận xã hội đối với một người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó; đồng thời là sự tự ý thức về giá trị bản thân, đến từ sự cống hiến, tu dưỡng và rèn luyện.
  • Nhân phẩm (phẩm giá con người) là những phẩm chất, giá trị chỉ con người mới có, tạo nên tư cách, vị thế và sự khác biệt của con người với thế giới động vật; nhân phẩm của cá nhân mang tính khách quan và được pháp luật bảo vệ.
  • Uy tín là sự tín nhiệm và mến phục được xã hội công nhận dựa trên sự đáng tin cậy của lời nói, hành động và cam kết; uy tín được phân định thành uy tín chức vụ (gắn với vị trí, quyền lực được định sẵn) và uy tín cá nhân (xây dựng qua quá trình phấn đấu, đạo đức và cách ứng xử).

Từ việc phân tích thiếu sót của Điều 34 BLDS 2015 khi không đưa ra định nghĩa cụ thể, tác giả xây dựng khái niệm: "Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là quyền nhân thân được pháp luật quy định là bất khả xâm phạm, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình, yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại."

Đặc điểm pháp lý của quyền gồm:

  1. Tính bình đẳng đối với mọi cá nhân (không phân biệt hoàn cảnh, địa vị, tài sản).
  2. Là loại quyền dân sự đặc biệt, gắn liền với đời sống tinh thần của con người.
  3. Tính chất phi tài sản (không thể là đối tượng trao đổi, mua bán, chuyển giao).
  4. Mối liên hệ chặt chẽ với các quyền nhân thân khác (đặc biệt là quyền đối với hình ảnh và quyền có họ, tên).
  5. Được bảo hộ vô thời hạn, kể cả khi chủ thể đã chết; việc khắc phục hậu quả mang tính chất định tính.

Về phương thức bảo vệ, tác giả nhấn mạnh việc bảo vệ quyền nhân thân cần được thực hiện ngay từ khi cá nhân xác lập quyền chứ không chỉ kích hoạt khi đã có hành vi xâm phạm xảy ra. Chương 1 cũng điểm lại tiến trình lập hiến, lập pháp của Việt Nam từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013, qua các BLDS 1995 (Điều 33), BLDS 2005 (Điều 37) đến BLDS 2015 (Điều 34); đồng thời so sánh với Điều 16 BLDS Pháp và các Điều 991, 994, 1000 BLDS Trung Quốc năm 2020.

CHƯƠNG 2: Thực tiễn quy định pháp luật dân sự Việt Nam về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định thực định của BLDS 2015 và các luật liên quan:

  • Về chủ thể: Bao gồm chủ thể có hành vi vi phạm (người Việt Nam, người nước ngoài - xử lý theo Điều 687 BLDS 2015), chủ thể bị xâm phạm (mọi cá nhân, kể cả người đã chết theo khoản 2 Điều 34 BLDS 2015, người nước ngoài theo Điều 20 và Điều 30 Hiến pháp 2013), và cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết (Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân).
  • Về các nguyên tắc cơ bản:
    1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được Nhà nước bảo vệ (khoản 1 Điều 34).
    2. Được bảo vệ ngay cả khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng, con thành niên hoặc cha, mẹ (khoản 2 Điều 34; gắn kết với quy định về di sản thừa kế quyền yêu cầu bồi thường tại Điều 105, 612 và hàng thừa kế thứ nhất tại Điều 651 BLDS 2015).
    3. Thông tin ảnh hưởng xấu đăng tải trên phương tiện nào phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện đó (khoản 3 Điều 34; cụ thể hóa qua Điều 42 Luật Báo chí).
  • Về phương thức bảo vệ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Gồm tự bảo vệ/tự cải chính; yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi, cải chính, xin lỗi; khởi kiện ra Tòa án.

Tác giả tổng hợp các nguyên tắc và căn cứ bồi thường thiệt hại theo Điều 585, Điều 592 BLDS 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NĐ-CP:

Nội dung pháp lý Căn cứ điều luật Quy định cụ thể
5 nguyên tắc bồi thường thiệt hại Điều 585 BLDS 2015 1. Bồi thường toàn bộ và kịp thời (Khoản 1).
2. Giảm mức bồi thường khi không có lỗi/lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế (Khoản 2).
3. Thay đổi mức bồi thường khi không còn phù hợp thực tế (Khoản 3).
4. Không bồi thường phần thiệt hại do lỗi của bên bị thiệt hại gây ra (Khoản 4).
5. Không bồi thường nếu không áp dụng biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn thiệt hại (Khoản 5).
Các khoản thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm Điều 592 BLDS 2015; Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NĐ-CP 1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại (thu hồi/xóa bỏ ấn phẩm, thu thập chứng cứ, đi lại, tổ chức xin lỗi/cải chính).
2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút (tính theo lương cố định, trung bình 03 tháng liền kề, hoặc 01 ngày lương tối thiểu vùng/26 ngày).
3. Bù đắp tổn thất về tinh thần (các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì tối đa không quá 10 lần mức lương cơ sở).

Đánh giá hạn chế của quy định hiện hành, tác giả chỉ ra: BLDS 2015 thiếu quy định định danh cụ thể các hành vi xâm phạm; khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc gỡ bỏ/cải chính khi đối mặt với các tài khoản ẩn danh, website mạo danh trên Internet; nguyên tắc bồi thường "kịp thời" bị triệt tiêu do thủ tục tố tụng dân sự kéo dài (thời hạn thụ lý theo Điều 191 BLTTDS là 8 ngày nhưng thực tế mất hàng tháng; thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 BLTTDS kéo dài 4 tháng); mức bù đắp tổn thất tinh thần tối đa 10 lần mức lương cơ sở chưa tương xứng với tổn thất thực tế.

CHƯƠNG 3: Thực tiễn thi hành quy định pháp luật dân sự Việt Nam về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật

Chương 3 xem xét thực tiễn áp dụng của cá nhân mang quyền và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thụ lý, xét xử tranh chấp dân sự:

  • Thực tiễn thi hành: Việc thu thập chứng cứ điện tử, định danh người vi phạm trên không gian mạng gặp trở ngại kỹ thuật lớn (che giấu IP, mã hóa dữ liệu máy chủ nước ngoài). Các cơ quan hành chính chủ yếu dừng ở mức xử phạt vi phạm hành chính, trong khi Tòa án gặp áp lực về thời hạn tố tụng và định lượng thiệt hại vô hình.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Bổ sung điều khoản định nghĩa rõ ràng về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và danh mục các hành vi cấu thành vi phạm vào BLDS.
    2. Sửa đổi khoản 4 Điều 585 BLDS 2015 theo hướng bổ sung cụm từ "một phần hoặc toàn bộ" thiệt hại để bảo đảm tính hợp lý khi thiệt hại xảy ra ngay tức khắc.
    3. Hoàn thiện chế tài xử lý và cơ chế phối hợp trong Luật An ninh mạng năm 2018 và nâng cao tính bắt buộc, hiệu lực pháp lý của Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (thay vì chỉ mang tính tuyên truyền theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT).
    4. Điều chỉnh nâng mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa (vượt qua giới hạn 10 lần lương cơ sở) để phù hợp với tính chất nghiêm trọng của các vụ việc phát tán thông tin sai sự thật quy mô lớn.
  • Kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành: Rút ngắn thời gian xử lý tố tụng thực tế tại Tòa án; tăng cường năng lực kỹ thuật số cho cơ quan tư pháp trong việc truy vết hành vi vi phạm trực tuyến; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật đến người dân.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả pháp lý và thực tiễn: Khóa luận hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ Hiến pháp đến luật chuyên ngành; làm rõ cấu trúc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Điều 585, 592 BLDS 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NĐ-CP; chỉ ra sự vênh giữa quy định tố tụng (Điều 191, 203 BLTTDS) với nguyên tắc bồi thường "kịp thời".
  • Các đề xuất sửa đổi cụ thể:
    • Đề xuất bổ sung điều luật định nghĩa khái niệm và hành vi xâm phạm quyền nhân thân trong BLDS.
    • Đề xuất sửa đổi câu chữ tại khoản 4 Điều 585 BLDS 2015: "Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường một phần hoặc toàn bộ nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình".
    • Kiến nghị nâng mức trần bồi thường tổn thất tinh thần và bổ sung chế tài bắt buộc cho các quy tắc ứng xử trên không gian mạng.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả tự nêu rằng trong khi các công trình trước đây (như nghiên cứu của Phùng Thị Ngọc Anh năm 2018, Trương Thị Tuyến năm 2020, Đoàn Trọng Chỉnh năm 2022, Phùng Trung Tập năm 2014) mới chỉ tiếp cận quyền này ở những khía cạnh riêng lẻ hoặc dưới góc độ Hiến pháp/bồi thường đơn thuần, khóa luận này đã nghiên cứu một cách hệ thống trên cả phương diện lý luận, quy định thực định đa ngành luật và thực tiễn thi hành trong bối cảnh bùng nổ của mạng xã hội và công nghệ thông tin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Phạm vi không gian dữ liệu: Số liệu thực tiễn và các vụ án khảo sát chủ yếu tập trung tại hai địa bàn (tỉnh Phú Thọ và TP. Hồ Chí Minh), chưa phản ánh toàn diện số liệu thống kê tư pháp trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố của cả nước.
  • Độ sâu về công nghệ: Đề tài chỉ ra khó khăn trong việc truy vết địa chỉ IP, tài khoản mạng xã hội ẩn danh dưới góc độ rào cản tố tụng dân sự, chưa đi sâu giải quyết các giải pháp kỹ thuật công nghệ thông tin chuyên biệt để phối hợp giám định chứng cứ số.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành giữa tố tụng dân sự và tư pháp quốc tế đối với các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới; nghiên cứu xây dựng khung lượng hóa cụ thể các thiệt hại phi vật chất do vi phạm quyền nhân thân trên không gian mạng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự và Luật Quốc tế khi nghiên cứu về chế định quyền nhân thân và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Cán bộ nghiên cứu, nhà lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS 2015, sửa đổi các quy định về an ninh mạng và quy tắc ứng xử trên môi trường số.
  • Phần đáng tham khảo nhất:
    • Nội dung phân tích 5 nguyên tắc bồi thường thiệt hại tại Điều 585 và cách xác định các khoản chi phí bồi thường theo Điều 592 BLDS 2015 kết hợp Nghị quyết số 02/2022/NĐ-CP (Chương 2).
    • Phân tích đối chiếu quy định bảo vệ danh dự người đã chết giữa BLDS Việt Nam với BLDS Pháp và Trung Quốc (Chương 1 và Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả xây dựng định nghĩa quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân như thế nào?
Tác giả định nghĩa: "Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là quyền nhân thân được pháp luật quy định là bất khả xâm phạm, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình, yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại."

2. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân sau khi chết được pháp luật quy định thực hiện ra sao?
Theo khoản 2 Điều 34 BLDS 2015, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được bảo vệ ngay cả khi đã chết. Việc yêu cầu bảo vệ được thực hiện bởi vợ, chồng hoặc con thành niên; nếu không có những người này thì do cha, mẹ của người đã chết thực hiện. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản gắn với người đã khuất được chuyển dịch cho các đồng thừa kế theo Điều 105, Điều 612 và Điều 651 BLDS 2015.

3. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm được quy định tối đa là bao nhiêu?
Theo khoản 2 Điều 592 BLDS 2015, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười (10) lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

4. Điểm mới cơ bản trong quy định về giảm mức bồi thường thiệt hại tại khoản 2 Điều 585 BLDS 2015 so với BLDS 2005 là gì?
BLDS 2015 thay cụm từ "Người gây thiệt hại" bằng "Người chịu trách nhiệm"; bổ sung trường hợp được xét giảm mức bồi thường khi "không có lỗi" (bên cạnh lỗi vô ý) nếu thiệt hại quá lớn; đồng thời lược bỏ cụm từ "trước mắt và lâu dài", chỉ quy định căn cứ vào "khả năng kinh tế của mình".

5. Vì sao nguyên tắc bồi thường "kịp thời" theo khoản 1 Điều 585 BLDS 2015 khó được bảo đảm trong thực tế giải quyết tranh chấp tại Tòa án?
Do các vụ tranh chấp phải tuân thủ trình tự tố tụng dân sự nghiêm ngặt: thời hạn thông báo thụ lý vụ án theo khoản 2, 3 Điều 191 BLTTDS là 8 ngày nhưng trên thực tế có thể kéo dài hàng tháng; thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ việc đơn giản theo điểm a khoản 1 Điều 203 BLTTDS kéo dài 04 tháng; cộng với việc triệu tập đương sự có thể bị vắng mặt, dẫn đến việc giải quyết không thể diễn ra ngay lập tức khi thiệt hại phát sinh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Trung Hiếu là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về chế định quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong pháp luật dân sự Việt Nam. Tác giả đã làm rõ bản chất lý luận, đánh giá sâu sắc những tiến bộ cùng các khoảng trống pháp lý của BLDS năm 2015 trong mối tương quan với các luật chuyên ngành và thực tiễn kỷ nguyên số. Các giải pháp và kiến nghị sửa đổi quy phạm pháp luật được xây dựng trên cơ sở khoa học, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong giai đoạn hiện nay.