phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chương. Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình quy hoạch kiến trúc, công tác bảo tồn di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn Chƣơng 2: Các cơ sở khoa học để tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn 3 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH QUY HOẠCH KIẾN TRÚC, CÔNG TÁC BẢO TỒN DI TÍCH VĂN HÓA LỊCH SỬ NGŨ HÀNH SƠN 1. Lịch sử hình thành 1. Lịch sử quá trình hình thành và phát triển của di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn Lâu nay, theo truyền thuyết và sử sách ghi lại Ngũ Hành Sơn là vùng đất linh thiêng, có giá trị văn hóa tâm linh đặc sắc.
Tương truyền trong thời khắc sinh ra của trời và đất, khi Đà Nẵng vẫn còn hoang sơ một con rùa biển lớn từ Biển Đông bò vào bờ và chọn vùng đất này làm nơi đẻ trứng. Khác biệt là con rùa lớn này chỉ đẻ duy nhất 1 quả trứng rồi trở lại biển, vỏ trứng nứt làm 5 mảnh, trở thành 5 trái núi nên gọi là Ngũ Hành Sơn. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu lịch sử chỉ ra rằng, các cứ liệu lịch sử cho thấy, vùng đất này có tên gọi là Non Nước từ lâu đời và đã đi vào ca dao như một tổng kết kinh nghiệm về thời tiết của dân chúng: “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà, Sấm rền Non Nước trời đà chuyển mưa”. Trong Giáp Ngọ bình Nam đồ do Đoan quốc công Nguyễn Hoàng lập năm 1594, sau khi được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, vẽ đường đi từ Chiêm Thành đến biên giới Chân Lạp có ghi địa danh “Non Nước Sơn”.
Cũng như trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo, tự Đạo Phủ, quê Nghệ An, soạn vào năm Bính Dần (1686), vẽ đường đi từ Thăng Long đến Chiêm Thành đều có ghi “Non Nước Sơn tam đỉnh” bằng chữ Nôm. Như vậy, địa danh núi Non Nước đã xuất hiện trên văn bản hơn 5 thế kỷ, còn sự ra đời của vùng đất này chắc phải kể từ khi những lưu dân Việt đặt chân đến đây. Trong khi đó, tên Ngũ Hành Sơn được Lê Quang Định nói đến trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) như sau: “Phía đông bến đò xã Hoàn Ký Đông có núi Ngũ Hành Sơn, năm tòa núi chia làm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là núi Non Nước”. Nhưng phải đến năm Minh Mạng thứ mười tám (1837) cũng là lần thứ 3 đến ngự du nơi này (lần thứ nhất vào năm 1825 và lần thứ hai vào năm 1827), nhà vua mới chính thức ghi tên Ngũ Hành Sơn vào bản đồ địa chính của Đại Nam (quốc hiệu nước ta thời bấy giờ) bằng một sắc chỉ - theo sách Đại Nam dư địa chí ước biên, đồng thời tiến hành tu sửa chùa Tam Thai và xây dựng chùa Ứng Chân.
Vai trò của di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn trong cấu trúc đô thị Sau di tích cấp quốc gia đặc biệt thành Điện Hải, thành phố Đà Nẵng đang tiến hành lập hồ sơ di tích cấp quốc gia đặc biệt cho di tích quốc gia Ngũ Hành Sơn (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn). Theo các nhà nghiên cứu, kể từ khi di tích 4 này được công nhận di tích cấp quốc gia vào năm 1980, những nghiên cứu, khảo cổ càng xác minh giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử của Ngũ Hành Sơn. Các nhà nghiên cứu còn cho rằng dấu tích về con người ở cụm núi này, ngoài những hiện vật Chăm được thờ tự trong các hang động, thì công tác khảo cổ cũng đã chứng minh khu vực núi Ngũ Hành Sơn là nơi sinh tụ của người Chămpa từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IX. Ngoài ra, với mật độ dày đặc chùa chiền, tượng phật được xây dựng rất sớm trên các ngọn núi ở Ngũ Hành Sơn, cùng những văn bia, hiện vật văn hóa phật giáo…đang còn lưu giữ được, đủ điều kiện để xác định Ngũ Hành Sơn chính là một trong những trung tâm phật giáo ở khu vực.
Dưới góc nhìn phong thủy, Ngũ Hành Sơn là vùng đất địa linh không chỉ của riêng Đà Nẵng mà còn của cả nước. Nếu quan sát kỹ, địa hình thành phố Đà Nẵng như lòng bàn tay ngửa, vuông vức với đầy đủ các nhân tố của vùng đất linh thiêng. Tính từ đông sang tây, năm đỉnh núi gồm: Ngũ Hành Sơn, Phước Tường, núi Chúa (Bà Nà), Hải Vân và Sơn Trà được ví như 5 đầu ngón tay bao bọc xung quanh che chở lòng bàn tay là thành phố. Ngoài ra, Ngũ Hành Sơn cùng với núi Sơn Trà tạo nên thế đất theo thuật phong thủy gọi là “Rồng chầu hổ phục” cho Đà Nẵng.
“Ngũ Hành Sơn sở hữu địa thế đa dạng hiếm có gồm núi, đồng bằng, sông, biển xen kẽ nhau. Các đặc điểm cơ bản khi tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn. Đặc điểm về bảo tồn các di tích lịch sử trong khu Danh thắng: Ngũ Hành Sơn là danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng với những truyền thuyết lịch sử và điển tích Phật giáo, nơi lưu giữ những di vật, cổ vật từ thế kỷ XV - XIX như: chuông đồng, tượng đồng, tấm kim bài vua ban, khánh đá, liễn đối, các bức hoành phi, các tượng Chămpa bằng đá sa thạch, các công trình kiến trúc di tích…rất có giá trị về mặt văn hóa lịch sử. Nhằm ghi lại vị trí, địa danh, danh xưng, các vị sư trụ trì tại các chùa cũng như các vua quan nhà Nguyễn cũng đã để lại một số văn bia và ký tự bằng chữ Hán được khắc trên đá tại quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn.
Các văn bia cổ và các ký tự với những đường nét tỉ mỉ, công phu, có tính nghệ thuật cao, bên cạnh có những dòng chữ nhỏ ghi lại niên đại của các thời vua trị vì, ghi đậm dấu ấn thời gian, tồn tại trong lòng một di tích qua bao thế kỷ. Các văn bia cổ như: 5 Bia “Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật”, bia có kích cỡ (59 x 96cm), được Thiền sư Huệ Đạo Minh lập năm Canh Thìn, hiện đặt tại động Hoa Nghiêm trên ngọn Thủy Sơn. Bia “Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật diệt lạc”, bia này cũng do Thiền sư Huệ Đạo Minh lập thành vào tháng 10 Tân Tỵ (1641), sau bia "Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật" một năm, được khắc ở động Vân Thông. Bia cổ trên vách động Tàng Chơn: Trên vách động Tàng Chơn có hai văn bia cổ, nhưng rất tiếc những dòng chữ trong lòng bia bị xóa mờ do thời gian nên hiện nay không còn đọc được nữa.
Qua trình bày trang trí và dấu tích còn lại, văn bia này có thể khắc cùng với hai văn bia "Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật " tại động Hoa Nghiêm và bia "Ngũ Uẩn sơn cổ tích Phật diệt lạc" tại động Vân Thông. Bia “Vọng Giang Đài” và “Vọng Hải Đài”: Trên ngọn Thủy Sơn - Ngũ Hành Sơn có hai địa điểm ở tầm cao để nhìn sông và nhìn biển. Điểm phía Tây nhìn sông gọi là Vọng Giang Đài, điểm phía Đông nhìn biển gọi là Vọng Hải Đài. Các ký tự cổ: “Thủy Sơn”: kích cỡ (40cm x 40cm) chạm khắc rất sắc nét trên một tảng đá cao, có mặt phẳng đứng, lối lên đường cấp gần đến chùa Tam Thai nhằm ghi địa danh ngọn Thủy Sơn.
“Dương Hỏa Sơn”: kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên ngọn Hỏa Sơn (Hỏa Sơn có 2 ngọn; Âm Hỏa Sơn và Dương Hỏa Sơn), chữ khắc rất sắc nét trên một vách đá cao của đỉnh Dương Hỏa Sơn. “Huyền Không động”, kích cỡ (30cm x30cm), sơn màu vàng, được khắc trên cao, bên cạnh tượng Phật Thích Ca trong động Huyền Không. “Động Thiên Phước Địa”, kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên đỉnh hang gió Tây (cổng vào phía Tây của động Thiên Phước Địa). “Vân Nguyệt Cốc”, và “Thiên Long cốc” có nghĩa là động để ngắm gió trăng và động Rồng thiêng, kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên vách đá trong lòng động Thiên Phươc Địa.
“Tàng Chơn động” kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên vách đá, phía tay trái lối vào động Tàng Chơn. “Vân Thông động”, kích cỡ (40cm x40cm) khắc bên trong lòng động Vân Thông (lối lên trời). Các văn bia cổ và các ký tự được nhà chùa và các vua quan nhà Nguyễn cho khắc trên các vách đá tại thắng tích Ngũ Hành Sơn có giá trị nhất định về mặt lịch sử, qua đó thấy được ý nghĩa tôn vinh vẽ đẹp danh thắng cũng như biểu thị sự sùng bái tín ngưỡng đối với đạo Phật của người Việt từ các thế kỷ trước. [13] 6 Đặc điểm về tổ chức làng nghề đá Mỹ nghệ truyền thống: Nằm dưới chân núi Ngũ Hành Sơn (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn), Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước là làng nghề lâu đời nhất và nổi tiếng nhất Đà Nẵng.
Nghề chế tác đá ở vùng năm ngọn núi này được hình thành vào thế kỷ XVIII do một nghệ nhân có tên là Huỳnh Bá Quát mang nghề từ Thanh Hóa vào. Ban đầu, những người thợ đá bấy giờ chỉ khai thác đá tại chỗ dùng trong xây dựng và tạo ra một số dụng cụ lao động đơn giản như: cối xay, cối giã, đá buộc neo thuyền, đá buộc chài dụ cá… Sau đó, phát triển thêm các sản phẩm điêu khắc bia mộ, chế tác các tác phẩm nghệ thuật trang trí tại các miếu thờ, lăng tẩm, cung đình… cho tới những sản phẩm nghệ thuật trang trí có giá trị mỹ thuật cao. Ngày trước, một người thợ giỏi trong làng là ông Huỳnh Bá Triêm đã từng ra kinh đô Huế trang trí các lăng tẩm, cung đình. Ông đã học được cách làm bộ ấm chén trà bằng đá cẩm thạch đỏ - sản phẩm được xem là độc đáo, tinh xảo nhất của nghề đá mỹ nghệ Non Nước hồi đó.
Nhưng nói về người đầu tiên dùng đá quý tạc tượng là phải nhắc đến nghệ nhân Nguyễn Chất, ông đã tạo tác hai pho tượng thờ ở động Hoa Nghiêm và động Tàng Chơn, đến nay vẫn ngày ngày được khách hành hương chiêm ngưỡng. [8] Sau ngày thống nhất đất nước, những người làm nghề điêu khắc đá tập hợp lại thành lập HTX Đá mỹ nghệ Non Nước, hoạt động trong suốt thập niên 80 thế kỷ trước.