ĐẶT VẤN ĐỀ Hồ Tây là một hồ tự nhiên, có diện tích lớn nhất của thủ đô Hà Nội. Hồ rất nổi tiếng với các giá trị đặc trưng về danh lam thắng cảnh, các hoạt động du lịch, văn hóa - thể thao và gắn liền với lịch sử, tâm linh của người dân thủ đô, cũng như người dân Việt Nam từ bao đời nay. Hồ Tây còn có giá trị đặc sắc về ĐDSH, chứa đựng nguồn tài nguyên động, thực vật đa dạng và độc đáo. Với việc tham gia công ước Ramsar, Việt Nam có nghĩa vụ sử dụng khu vực này một cách hợp lý để vừa đạt hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ ĐDSH cũng như cảnh quan của nó.
Về mặt pháp lý, thông báo số 72/TB-TW ngày 26/5/1994 của Bộ Chính Trị về một số vấn đề quy hoạch và xây dựng thủ đô Hà Nội đã nêu rõ: “Phải hết sức giữ gìn và tôn tạo những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, độc đáo của Hà Nội, nhất là vẻ đẹp của các hồ lớn”. Quyết định số 473/BXD/KTQH ngày 08/01/1994 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng khẳng định: “Khu vực Hồ Tây phải được quy hoạch xây dựng thành trung tâm giao dịch quốc tế, trung tâm dịch vụ du lịch, trung tâm văn hóa thể thao và là vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên phục vụ các hoạt động vui chơi giải trí của thủ đô”. Đồng thời, Quyết định gần đây nhất, quyết định số 1479/QĐ-TTg , ngày 13/10/2008 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020 “Hồ Tây, bảo vệ sinh thái hồ tự nhiên, ngoài ra khu bảo tồn còn có ý nghĩa về du lịch – nghiên cứu - giáo dục” Qua đó có thể thấy sự quyết tâm của các cấp, các ngành trong việc quy hoạch và bảo vệ Hồ Tây trước tình trạng tính bền vững của HST này đang bị đe dọa do hoạt động xả thải không hợp lý của người dân xung quanh khu vực vào hồ và các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Chúng ta đều nhận thấy rằng quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế một cách nhanh chóng trong những năm qua đã làm cho mức độ ô nhiễm của Hồ Tây ngày một gia tăng do lượng nước thải đổ ra ngày một nhiều, điều 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này làm chất lượng nước của hồ ngày càng suy giảm, làm biến đổi thành phần loài và khu hệ sinh vật của Hồ Tây.
Ngoài ra, biến đổi khí hậu với sự xen kẽ hạn hán và lũ lụt bất thường đang ảnh hưởng rất lớn tới sự ĐDSH của các loài sinh sống trong hồ. Tác động của con người đã khiến hai nhóm ĐDSH của hồ là thực vật thủy sinh và ĐVĐ bị suy thoái nghiêm trọng. Nhiều loài đặc hữu của hồ đã mất đi, xuất hiện một số loài ngoại lai mới. Ô nhiễm bởi các nguồn thải từ vùng lưu vực của các hoạt động du lịch trên hồ, kể cả các chất thải rắn cũng góp phần hủy hoại Hồ Tây.
Hay như việc tiếp tục nuôi cá ở Hồ Tây gây áp lực đối với các loài cá bản địa, cô lập hồ với các thủy vực xung quanh. Nếu cộng cả hai hướng tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động của con người, rủi ro tiêu diệt ĐDSH, HST tự nhiên của Hồ Tây là rất lớn. Hồ Tây lúc ấy sẽ bị vô sinh. Hà Nội hiện mới chỉ bảo vệ Hồ Tây theo hướng bảo vệ cảnh quan, khai thác hồ chống úng, phát triển du lịch, nuôi cá, không thấy bảo vệ theo hướng bảo tồn ĐDSH, bảo tồn HST tự nhiên và mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng nước của Hồ Tây.
Tuy nhiên chứa có đề tài nào đưa ra biện pháp bảo tồn cụ thể cho Hồ Tây. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học Hồ Tây, Hà Nội”. Đề tài gồm những mục đích chính sau: 1. Điều tra, đánh giá hiện trạng đa dạng thành phần loài sinh vật ở Hồ Tây 2.
Xác định chỉ số đa dạng loài của các nhóm sinh vật ở Hồ Tây 3. Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm môi trường nước và giảm đa dạng thành phần loài của Hồ Tây 4. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn đa dạng các loài sinh vật của Hồ Tây 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về Đa dạng sinh học 1.
Khái niệm về đa dạng sinh học Có thể coi, thuật ngữ “đa dạng sinh học” lần đầu tiên được Norse và McManus (1980) định nghĩa, bao hàm khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Hiện nay có nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học. Định nghĩa do Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (1989)[17] quan niệm: Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp tồn tại trong môi trường”. Do vậy, đa dạng sinh học bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái.
Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. Ở mức độ vi mô hơn, đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh vật sinh sống, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau. Theo Công ước Đa dạng sinh học thì “ Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dước nước khác và mọi tổ tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên.
Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái). 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đa dạng di truyền được hiểu là tần số và sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau. - Đa dạng loài là tần số và sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau. - Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về trạng thái và tần số của các hệ sinh thái khác nhau.
Từ ba góc độ này, người ta có thể tiếp cận với Đa dạng sinh học ở cả ba mức độ: mức độ gen phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ hệ sinh thái (IUCN, 1994). Chỉ số Đa dạng sinh học Có lẽ Wallace (1878) là người đầu tiên cho rằng ở vùng nhiệt đới động vật đa dạng và phong phú hơn ở vùng ôn đới. Một nhà khoa học tự nhiên có thể có một cảm nhận về sự đa dạng khi họ quan sát và so sánh giữa hai khu vực khác nhau, nhưng để thể hiện sự khác biệt này qua báo chí thì phải dùng các chỉ số nói về tính đa dạng loài. Một cách đơn giản nhất để xác định tính đa dạng là đếm số loài, kết quả này được gọi là sự phong phú về thành loài (McIntosh, 1967).
- Cách đếm tƣơng đƣơng Xác định số loài trong một mẫu phụ thuộc rất lớn vào cỡ mẫu, mẫu càng lớn thì số loài xác định được càng nhiều. Phương pháp hạn chế những sai sót trong khi đếm các mẫu khác nhau về số lượng được gọi là cách đếm tương đương. Để thực hiện công việc này, chúng ta phải đưa số lượng quần thể về số lượng chuẩn (khoảng 1000 cá thể). Công thức xác định số loài được đưa ra từ hai nhà khoa học Hurlbert (1971) và Simberloff (1972) nghiên cứu độc lập đó là : E(S) = 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với E(S) là số loài có thể xác định được trong mẫu, n là cỡ mẫu tiêu chuẩn, N là tổng số cá thể trong mẫu được xác định và ni là số cá thể của loài thứ i trong mẫu.
Thuận ngữ là một sự kết hợp, nó được tính như sau: Để bổ sung cho cách đếm tương ứng, có nhiều chỉ số về sự phong phú thành phần loài được bổ sung vào như sau: Margalef (1969) : D = (S-1)/ Ln N Menhinick (1964): Odum, Cantlon và Kornicher (1960) R= S/ LogN Có sự khác biệt về chỉ số phong phú thành phần loài và sự khác biệt còn phụ thuộc vào loại chỉ số được sử dụng. Rõ ràng phải có một cách nào đó để xác định tính đa dạng, đưa vào tính toán chỉ số phong phú thành phần loài và sự ưu thế của những cá thể trong từng loài. Cách tính đó được gọi là chỉ số đa dạng hay là chỉ số không đồng nhất. [4] - Chỉ số đa dạng Có hai loại chỉ số được xác định đó là chỉ số ưu thế và chỉ số thống kê Chỉ số ưu thế Chỉ số ưu thế cho biết nhiều về số lượng của loài phổ biến hay loài ưu thế, nó được Simpson (1949) giới thiệu đầu tiên trong thuật ngữ sinh thái.
Chỉ số Simpson cho biết tần suất của bất kì hai cá thể nào phân bố ngẫu nhiên từ một quần xã rất lớn phụ thuộc vào những loài khác nhau, đó là: Với Pi là tần suất của những cá thể loài i.Trong đó Pi = 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với quần xã có số lượng hạn chế thì D được tính như sau: Với ni là số cá thể của loài thứ i và N là tổng số cá thể. Khi D tăng, sự đa dạng thực sự giảm. Để tránh sự hiểu lầm, chỉ số Simpson thường được viết là 1- D hay 1/D vì thế khi giá trị này tăng thì chỉ số đa dạng tăng. Tuy nhiên sự bất tiện trong chỉ số Simpson là chỉ chú trọng vào những loài ưu thế.
Như thể những loài hiếm chỉ có một cá thể thì bị mất đi khả năng làm thay đổi chỉ số này. McIntosh (1967) đề nghị chỉ số với và Pi là tần suất của loài thứ i.