Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1. Lý luận chung về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Khái quát chung về nhãn hiệu Nhãn hiệu đã xuất hiện từ thời cổ đại, được người chăn nuôi gia súc, nhà buôn, nhà sản xuất khi đó dùng để đánh dấu các đàn gia súc hoặc các đồ vật của mình. Phát hiện của các nhà khảo cổ hiện đại cho thấy cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran.
Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng. [21] Nhờ sự hưng thịnh của hoạt động giao thương mà việc sử dụng các dấu hiệu đó trên hàng hóa tương đối phát triển. Ban đầu, nhãn hiệu không hoàn toàn thực hiện chức năng phân biệt mà việc sử dụng chúng chỉ để chỉ ra mối liên hệ giữa hàng hóa với nhà sản xuất ra hàng hóa, giữa tài sản với chủ sở hữu của tài sản mà thôi. Cũng chính bởi lẽ đó, ở thời kỳ đầu tầm quan trọng về mặt kinh tế của nhãn hiệu vẫn còn hạn chế.
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự phát triển của hoạt động thương mại và buôn bán hàng hóa đã khiến cho nhãn hiệu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế. Việc một hàng hóa có thể được cung cấp bởi nhiều nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh khác nhau khiến cho người tiêu dùng bối rối khi lựa chọn, họ cần có một dấu hiệu chỉ dẫn để nhận biết hàng hóa của từng nhà sản xuất hoặc kinh doanh. Nhãn hiệu chính là dấu hiệu giúp họ phân biệt được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Xã hội hiện đại với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thị trường đem lại cho con người cơ hội được sử dụng rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau.
Các nhà sản Page 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất và thương gia cạnh tranh đưa đến cho người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng cho hàng hóa cùng loại. Ngoài việc nhận biết qua hình thức, giá cả, chất lượng của sản phẩm thì một dấu hiệu đặc trưng của riêng nhà sản xuất hoặc kinh doanh sẽ giúp cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn sản phẩm cạnh tranh phù hợp với mình. “Do vậy, hàng hóa phải được đặt tên. Phương tiện để đặt tên hàng hóa trên thị trường chính là nhãn hiệu hàng hóa.” [21] Khi mới ra đời nhãn hiệu thường chỉ là một dấu hiệu hoặc ký hiệu mang tính ngẫu nhiên.
Dần dần, cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại, nhu cầu cá biệt hóa sản phẩm khiến cho các nhà sản xuất, kinh doanh ý thức hơn về nhãn hiệu. Họ chú tâm nhiều hơn vào việc lựa chọn các dấu hiệu làm nhãn hiệu và lúc này nhiều nhãn hiệu đã không còn mang tính ngẫu nhiên nữa mà chứa đựng trong nó dụng ý, sự gửi gắm của các nhà sản xuất, kinh doanh đối với sản phẩm được đưa ra thị trường. Nhãn hiệu theo nghĩa nguyên thủy thì chỉ dùng để đặt tên cho hàng hóa. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của xã hội, hàng hóa được cung cấp cho con người không chỉ bó hẹp ở các sản phẩm cụ thể mà còn là các loại hình dịch vụ được cung cấp đa dạng trên thị trường.
Các dịch vụ này cũng cần được đặt tên để cho phép người tiêu dùng có thể phân biệt giữa các dịch vụ của các công ty khác nhau cùng cung cấp. Những dấu hiệu này tạo thành nhãn hiệu dịch vụ. Do nhãn hiệu dịch vụ mang bản chất giống hệt nhãn hiệu hàng hóa nên hiện nay trên thế giới, thuật ngữ “nhãn hiệu” được dùng chung cho cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 1995 sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” cho cả hàng hóa và dịch vụ.
Bộ luật dân sự 2005 đã sử dụng thống nhất thuật ngữ “nhãn hiệu” cho nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. Trên thương trường nhãn hiệu ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng, nhãn hiệu được coi như một công cụ để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, dịch vụ, thu hút khách hàng, tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng… Vai trò của nhãn hiệu càng trở nên quan trọng thì khả năng nhãn hiệu đó bị sao chép, làm giả, thậm chí Page 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đánh cắp càng cao. Thực tế này đòi hỏi phải có một cơ chế hữu hiệu để ghi nhận chính thức và công khai những người sở hữu nhãn hiệu, từ đó duy trì và củng cố đặc tính phân biệt của nhãn hiệu, bảo vệ nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng. Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu thực tế đó.
Nhãn hiệu là một trong các đối tượng SHTT đang được các quốc gia bảo hộ. Nhãn hiệu thuộc về nhánh quyền sở hữu công nghiệp. Khái niệm “sở hữu công nghiệp” bao gồm các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. Đó là những sản phẩm của sáng tạo trí tuệ tạo ra hoặc kết tinh trên sản phẩm để làm phong phú thêm đời sống vật chất cho con người.
Bên cạnh đó, sở hữu công nghiệp còn bao gồm nhãn hiệu, các chỉ dẫn thương mại và việc bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh. Với các đối tượng này, khía cạnh sáng tạo trí tuệ vẫn có song không mang tính quyết định như các đối tượng kia, mà yếu tố quyết định ở đây là việc chuyển tải thông tin tới người tiêu dùng về sản phẩm và dịch vụ cung cấp trên thị trường và việc bảo hộ nhằm chống lại việc sử dụng không được cho phép những dấu hiệu có khả năng lừa dối người tiêu dùng. Khái niệm nhãn hiệu có thể khác nhau ở từng nước, nhưng nhìn chung, khái niệm này có sự thống nhất ở nội dung: nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể với các chủ thể khác trong cùng lĩnh vực. Nội dung này được thể hiện trong Điều 15 Hiệp định TRIPS: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc một tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu”.
[17] Điểm khác nhau có chăng giữa khái niệm nhãn hiệu của các nước chính là ở nội hàm mà khái niệm này đề cập tới. Dấu hiệu nói chung có thể bao gồm chữ cái, chữ số, từ ngữ, khẩu hiệu, hình ảnh, màu sắc, mùi vị, âm thanh, hình thức bao bì… nhưng tùy hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia mà phạm vi của các dấu hiệu này được giới hạn ở những dấu hiệu nhất định. Theo định nghĩa của Hiệp hội nhãn hàng thế giới (INTA) thì nhãn hiệu có thể là từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh, khẩu hiệu hoặc hình dạng của bao gói Page 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc kết hợp của các yếu tố đó phục vụ cho việc xác định và phân biệt một sản phẩm cụ thể của những chủ thể khác nhau trên thị trường hoặc trong kinh doanh. Trong các định nghĩa về nhãn hiệu chúng ta dễ dàng nhận thấy một điểm chung nổi bật đó là nhãn hiệu có thể là bất kỳ dấu hiệu nào miễn là có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các chủ thể khác nhau.
Như vậy, về mặt lý luận, các dấu hiệu thuộc dạng nhìn thấy được và thuộc dạng không thể nhìn thấy được như mùi vị hoặc âm thanh đều có thể trở thành nhãn hiệu. Việc thừa nhận dấu hiệu thuộc dạng nào có thể sử dụng làm nhãn hiệu, vì thế, tùy thuộc và điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gia. Phần lớn các quốc gia chỉ cho phép đăng ký các dấu hiệu được thể hiện dưới dạng đồ họa (nghĩa là có thể nhìn thấy được), một trong các lý do là bởi chỉ các nhãn hiệu thuộc dạng này mới có thể ghi được trong sổ đăng bạ quốc gia và công bố một cách hữu hình trên công báo nhãn hiệu quốc gia, để công bố công khai với công chúng việc nhãn hiệu đó đã được xác lập quyền và được Nhà nước bảo hộ. Về vấn đề này, Điều 15.1 Hiệp định TRIPS quy định “… Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” [17].
Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa (TLT) cũng chỉ thừa nhận sự bảo hộ đối với các dấu hiệu nhìn thấy được, không thừa nhận sự bảo hộ đối với nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và mùi vị “Hiệp ước này không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh chụp ba chiều (holography) và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi.” [25] Có thể lấy ví dụ về các nhãn hiệu nổi tiếng được cấu thành từ các dấu hiệu khác nhau như sau: Nhãn hiệu dạng từ ngữ: CHANEL, TOYTA, Trung Nguyên Nhãn hiệu dạng hình ảnh: Đăng ký quốc tế số 433071 Page 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhãn hiệu kết hợp hình ảnh và từ ngữ: Nhãn hiệu quốc gia số 90714 1. Chức năng của nhãn hiệu Thông thường, một nhãn hiệu có những chức năng chính là: chức năng phân biệt, chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, chức năng thông tin về chất lượng và chức năng quảng cáo. Trên thực tế hai chức năng đầu của nhãn hiệu có tính phụ thuộc lẫn nhau và cần luôn được xem xét cùng nhau. Hai chức năng sau mang tính phái sinh, có được khi nhãn hiệu đã có hai chức năng đầu.
Nhãn hiệu ra đời với mục đích để phân biệt hàng hóa của chủ thể này với hàng hóa của chủ thể khác. Để thực hiện được chức năng này nhãn hiệu cần phải có khả năng tự phân biệt và khả năng phân biệt với nhãn hiệu của chủ thể khác. Khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu tạo cho nhãn hiệu một ấn tượng tổng thể tác động vào nhận thức của người tiêu dùng để họ có thể nhận biết, ghi nhớ và so sánh với các nhãn hiệu khác. Tính chất này có thể thay đổi, tùy thuộc vào việc sử dụng thực tế nhãn hiệu trên thị trường.