Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ CỦA VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA TỘI PHẠM CỦA CƠ QUAN CÔNG AN Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về quyền con người và bảo đảm quyền con người Trong toàn bộ các vấn đề của loài người, vấn đề quyền con ngườilà mối quan tâm của nhân loại trong suốt các thời kỳ phát triển. Mỗi bước phát triển của quyền con người đều gắn liền với thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình. Có nhiều định nghĩa về quyền con người (nhân quyền), mỗi định nghĩa biểu hiện một góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền.
Tuy nhiên, tổng hợp lại có thể chia thành ba nhóm quan niệm chủ yếu về quyền con người như sau: - Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, nên quyền con người phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con người là những lợi ích chỉ dành cho con người, gắn liền với cá nhân con người, không thể tách rời [39, tr. Quan điểm này được các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản ở thế kỷ XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Trường phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nước. Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon đưa ra định nghĩa: "Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền" [24, tr.
Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con người ở khía cạnh tự nhiên của nó. - Quan niệm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại 9 z chỉ đặt con người và quyền con người trong mối quan hệ xã hội khi cho rằng, con người chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của con người chỉ được xác định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác. Và vì là quan hệ xã hội nên quyền con người phải được nhà nước quy định và được nhà nước, pháp luật điều chỉnh, bảo vệ. Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con người là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội.
Vì con người là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con người cũng gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở của quyền con người ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định. - Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con người. Xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [4, tr.
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là "động vật xã hội" [4, tr.855] có khả năng "tái sinh ra con người", con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, quyền con người trước hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con người không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nước, mà trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó, quyền con người mang bản chất tự nhiên, được thể hiện ở quyền được sống, quyền tự do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng đáng với con người. Xét về mặt xã hội, con người mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con người đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội.
Trong luận cương thứ 10 z VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" [2, tr. Do đó, xét về khía cạnh xã hội, thì "quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội". Theo Mác: "Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài người" [3, tr. Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nước đã tạo ra những chuyển biến có tính "bước ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tương quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con người.
Đi kèm với xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con người cũng tất yếu chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội. Mặt khác, quyền con người, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của chính con người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con người, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Con người càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con người ngày càng được mở rộng, ngày càng được bảo đảm bấy nhiêu.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con người không phải chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con người nêu trên, mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa hai mặt đối lập. Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa khác nhau về quyền con người, tuy nhiên một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con 11 z người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [22, tr. Ngoài ra, còn có một định nghĩa của Văn phòng Cao ủy của Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Right – OHCHR) cũng thường trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, đó là “quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [44, tr. Tóm lại, có thể hiểu quyền con người là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển".
Quyền con người "không thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Quyền con người là một tổng thể những quyền gắn bó với nhau trong mối tương quan biện chứng, đó là quyền cá nhân và quyền của dân tộc cộng đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế văn hóa xã hội, quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội. Quyền con người là quyền vốn có, được “tạo hóa” ban tặng cho con người, tuy nhiên nó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiện thực khi nó được bảo đảm bằng các cơ chế, thiết chế khác nhau, trong đó bảo đảm quyền con người bằng pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, và chiếm vị trí trung tâm trong các biện pháp đảm bảo quyền con người. Hệ thống bảo đảm quyền con người bao gồm: Bảo đảm kinh tế: Bảo đảm kinh tế cho việc thực hiện quyền con người là việc tạo ra tiền đề vật chất để quyền được thực hiện.
Bản thân nhu cầu tự do không xuất hiện, phát triển và các giá trị tự do không được đánh giá đúng trong một xã hội đói nghèo, lạc hậu và thiếu thốn vật chất. Quyền con người xuất hiện, 12 z phát triển và được bảo đảm từ các những yếu tố, điều kiện kinh tế - xã hội và kết cấu tương quan giai cấp trong đó, mà xét cho cùng và quan trọng nhất vẫn là yếu tố kinh tế, nghĩa là bảo đảm về vật chất mang ý nghĩa quyết định. Bảo đảm chính trị: Mọi cá nhân đều là thành viên của một chế độ chính trị - xã hội nhất định, không thể đứng ngoài các mối quan hệ giai cấp, cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Theo nghĩa đó, bảo đảm quyền con người chính là tạo ra một môi trường chính trị thuận lợi để quyền phát triển trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống chính trị-hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền, bao gồm: đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể và nhân dân.
Thể chế chính trị nào đề cao giá trị con người, coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì trong thể chế đó cá nhân được bảo đảm quyền tự do của mình. Các bảo đảm xã hội: Bảo đảm về kinh tế và chính trị là điều kiện cần nhưng chưa đủ để tạo ra một môi trường xã hội cho quyền con người được thực hiện. Ý nghĩa của những bảo đảm xã hội khác là ở chỗ cho dù có một số nước có điều kiện kinh tế, chính trị gần như nhau nhưng bảo đảm quyền con người lại có thể khác biệt. Môi trường bảo đảm quyền con người còn hình thành từ những yếu tố lịch sử - truyền thống, văn hóa, tư tưởng, sự phát triển khoa học kỹ thuật trong mỗi quốc gia - đây là những yếu tố có thể tác động tích cực hay tiêu cực đến mức độ hưởng thụ quyền con người của các cá nhân.
Bảo đảm pháp lý: Theo nghĩa rộng, bảo đảm pháp lý là một dạng bảo đảm xã hội về quyền con người.