Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Xây dựng và sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học chương 2- Cảm ứng, Sinh học lớp 11, trung học phổ thông với sự hỗ trợ của phần mềm Cmap Tools Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về BĐKN trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Trên thế giới Năm 1968, BĐKN được phát sinh từ lý thuyết tiếp thu kiến thức của David Ausubel. Theo Ausubel, sự tiếp thu kiến thức xảy ra bởi sự đồng hóa những KN và những mệnh đề mới vào hệ thống kiến thức đã có của người học. Như vậy tiếp thu kiến thức một cách logic xuất hiện khi kiến thức mới liên hệ có ý thức, có mục đích với kiến thức trước. Trong khi đó, học vẹt những KN mới được thêm vào hệ thống kiến thức của người học một cách đúng nguyên văn và tùy tiện, do đó rất nhanh quên.
Kết quả sự tiếp thu kiến thức logic là người học sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và dễ áp dụng trong các tình huống. Năm 1972, trong chương trình nghiên cứu của Joseph D. Novak và cộng sự ở đại học Cornell, BĐKN đã được phát triển. BĐKN được trình bày bằng sơ đồ những KN và mối quan hệ của chúng, giúp sinh viên tổ chức thông tin về các KN khoa học theo logic tạo thuận lợi cho việc học.
BĐKN dựa trên tiền đề là các KN không tồn tại riêng biệt mà có quan hệ với những KN khác [16, 17]. Năm 1984, Novak và Gowin đã phát triển kỹ thuật BĐKN nhằm đánh giá kiến thức KN của người học. Ông cũng sử dụng BĐKN để xác định những thay đổi đang xảy ra trong nhận thức của sinh viên. Năm 1998, Novak, Mintzes và Wandersee đã nhận thấy từ mục đích đầu tiên của BĐKN là xác định những kiến thức đã có của người học.
Theo Novak “Sự tạo thành kiến thức mới không chỉ là sự học hiểu ở trình độ cao mà còn phụ thuộc vào cách tổ chức cấu trúc kiến thức của mỗi cá nhân trong những vùng nhận thức riêng biệt, và thậm chí còn phụ thuộc vào cảm hứng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong việc tìm ra kiến thức mới”, “Trong dạy học, sáng tạo, và sử dụng kiến thức BĐKN như là công cụ hiệu quả trong trường học” [16]. Ngoài ra, BĐKN cũng được nghiên cứu trong việc lập kế hoạch giảng dạy (Bascones & Novak, 1985; Novak, 1991; Novak, 1998) và đã ứng dụng ở trường đại học Cornell (Hoa Kì) [16]. Hiện nay BĐKN đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi với nhiều mục đích khác nhau như giúp người học ghi nhớ KN, đánh giá kết quả học tập, lập kế hoạch giảng dạy… Tình hình ứng dụng BĐKN trong dạy học Sinh học Ngay từ khi mới được nghiên cứu, các nhà khoa học và giáo dục đã tìm cách ứng dụng BĐKN vào nghiên cứu cũng như hoạt động giảng dạy môn Sinh học tại các nhà trường. Theo công trình nghiên cứu của J.
Ứng dụng có hiệu quả nhất của BĐKN trong việc giảng dạy học tập là cách tổ chức thứ bậc trong cấu trúc. Năm 1995, Soyibo đã nghiên cứu sử dụng BĐKN để so sánh nội dung kiến thức trong SGK Sinh học. Năm 1999, Bahar và cộng sự cho đề kiểm tra là dựa vào các từ cho sẵn để vẽ BĐ kiến thức về các lĩnh vực cơ bản của di truyền học dành cho sinh viên năm đầu tiên ngành Sinh học. Kết quả nghiên cứu của Bahar cho thấy đa số sinh viên có thể tạo được bản đồ với khoảng mười từ chìa khóa.
Kinchin coi BĐKN là công cụ hỗ trợ cho DH Sinh học vì vậy việc ứng dụng là rất cần thiết. Trong đề tài nghiên cứu “ Concept Maps: A Tool for Use in Biology Teaching” Stewart, James và cô ̣ng sự đã khái quát mô ̣t số hiǹ h thức sử du ̣ng BĐKN trong DHKN sinh ho ̣c, với hai mô hiǹ h cu ̣ thể sử du ̣ng BĐKN để da ̣y di truyền và sinh thái học. Các tác giả cũng đề xuất việc sử dụng BĐKN như mô ̣t công cu ̣ giảng da ̣y , thiế t kế chương triǹ h cũng như là phương tiê ̣n đánh giá thành quả học tập của HS. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong dạy và học môn Sinh học, các KN tồn tại riêng biệt, mỗi KN độc lập có liên quan đến các KN khác.
Mỗi một BĐKN mô tả thứ bậc và các mối quan hệ của tất cả các KN trong đó. Quá trình xây dựng BĐKN đòi hỏi một tư duy trực tiếp tổng hợp. Trong cố gắng này, phải xác định các KN chính và các KN phù hợp với mỗi chủ đề. Điều đó yêu cầu phải hiểu sâu về chủ đề và loại bỏ được bất kỳ một KN nhầm lẫn nào.
Một ưu điểm lớn của việc sử dụng BĐKN trong dạy Sinh học đó là việc cung cấp những hình ảnh trực quan của KN mà qua đó việc học được tập trung và rõ ràng hơn. Điều đó giúp GV chuyển những hình ảnh và những mối quan hệ giữa các KN trong chủ đề tới người học một cách dễ dàng. Năm 2008, Firas Corri & Radwan O. AL-Abed đã chỉ ra rằng BĐKN cũng giúp giáo viên kiểm tra được kiến thức của học sinh qua việc xây dựng cấu trúc bản đồ, nắm bắt các mối liên kết cũng như tạo ra các liên kết mới một cách phù hợp với chủ đề đang nghiên cứu.
Bằng cách như vậy, sử dụng thành thạo BĐKN cũng giúp người học có thể tự đánh gía được kiến thức của mình trong lĩnh vực môn học. Còn trong tài liệu “Using concept maps in Biology Lesons” cũng của hai tác giả trên đã cho rằng việc sử dụng BĐKN trong dạy học Sinh học là có hiệu quả. Theo nghiên cứu này, các sinh viên tỏ ra nhất trí cao với việc sử dụng bản đồ KN và nhận ra các giá trị trong đó[15]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, BĐKN còn là một KN mới mẻ, mới chỉ có các nghiên cứu ban đầu của các nhà khoa học và giáo dục điển hình như Nguyễn Phúc Chỉnh [3], Phan Đức Duy [5].
Các tác giả chủ yếu nghiên cứu về cơ sở lí luận, vai trò và đưa ra quy trình xây dựng BĐKN trong DH. Một số trường Đại học như Đại học Cần Thơ đã đưa BĐKN vào dạy học. Một số chương trình giáo dục nước ngoài tại nước ta cũng sử dụng BĐKN như chương trình Intel. Năm 2007, Đặng Thị Quỳnh Hương đã nghiên cứu và bước đầu ứng dụng BĐKN trong dạy học Sinh học (luận văn thạc sỹ), trong đó tác giả chú ý 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến việc xây dựng một số BĐKN trong chương trình Sinh học phổ thông như sinh sản, trao đổi chất, hô hấp, quang hợp.
Năm 2009, cũng trong luận văn thạc sỹ, tác giả Kiều Thị Kim Khánh đã nghiên cứu và xây dựng BĐKN để DHKN Sinh học THPT phần Sinh trưởng và phát triển. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Bản chất của KN Các sự vật hiện tượng được phản ánh thông qua các dấu hiệu cơ bản và không cơ bản , trong đó các dấ u hiê ̣u cơ bản khác biê ̣t của đố i tươ ̣ng đươ ̣c phản ánh trong nhận thức của con người tạo thành dấu hiệu của KN biểu thị sự vâ ̣t đó. Bấ t kỳ mô ̣t hành động tư duy nào cũng mang đặc trưng tư duy bằng KN, không có KN sẽ không có tư duy.
Logic hình thức xem “khái niệm là một yếu tố đơn giản của sự suy nghĩ, là một bộ phận của phán đoán, khái niệm chỉ là công cụ suy nghĩ và có tính chất qui ước để thuận tiện cho việc trao đổi sự suy nghĩ”. Các nhà triết học duy tâm hạ thấp vai trò của khái niệm nên xem xét các khái niệm khoa học chỉ là công cụ của nhận thức khoa học, chỉ là những từ mà đằng sau chúng không có hiện thực nào cả. Logic biện chứng xem “KN là sự kết tinh nhận thức của con người, KN là hình thức tư duy phản ánh sự vận động, phát triển của thực tại khách quan. KN khoa học là sự tổng kết các tri thức về những dấu hiệu, thuộc tính chung và bản chất giữa các sự vật hiện tượng”.
Logic biện chứng cho thấy một KN luôn tồn tại ba thuộc tính cơ bản: - Tính chung: KN là kết quả của quá trình nhận thức đi từ cái đơn nhất đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung bằng con đường khái quát hóa. Đơn nhất là những dấu hiệu thuộc tính chỉ có ở sự vật, hiện tượng nhất định. Phổ biến là những dấu hiệu thuộc tính chung có ở nhiều sự vật hay hiện tượng. Sự tổng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hòa các dấu hiệu hoặc thuộc tính chung và bản chất hợp thành nội dung KN.
Như vậy, nội dung KN là sự tổng hợp chứ không phải là một phép cộng các dấu hiệu. - Tính bản chất: Trong các dấu hiệu và thuộc tính chung, người ta phân ra được một số thuộc tính và dấu hiệu bản chất, mà nhờ nó, về cơ bản chúng ta có thể phân biệt được loại sự vật, hiện tượng này với loại sự vật hiện tượng khác. - Tính phát triển: KN phản ánh sự vâ ̣t hiê ̣n tươ ̣ng trong sự vâ ̣n đô ̣ng và biế n đổ i của chúng, do vâ ̣y bản thân nô ̣i dung KN cũng luôn có sự vâ ̣n đô ̣ng , biến đổi để tiế p câ ̣n gầ n hơn tới bản chấ t của sự vâ ̣t hiê ̣n tươ ̣ng và có thể dẫn tới hình thàn h nên mô ̣t KN mới. Tóm lại: Logic biện chứng xem KN là sự thống nhất biện chứng giữa đơn nhất và phổ biến, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa nội dung và hình thức.
Một số tác giả đã định nghĩa khái niệm như sau: Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành (1998): “KN là những tri thức khái quát về những dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung nhất của từng nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại; về những mối liên hệ và tương quan tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng khách quan” [1, tr. Theo Lê Thanh Thập (2000): “KN là một hình thức của tư duy phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất đặc trưng của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan ” [13, tr. Theo Vương Tất Đạt (2007): “KN là hình thức của tư duy, trong đó phản ánh dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng nhất.