Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn của đề tài. - Chương 2: Xây dựng và sử dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện để DH chương cơ chế di truyền và biến dị sinh học 12, THPT với sự hỗ trợ của phần mềm Cmap Tools. - Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu BĐKN tích hợp đa phƣơng tiện trên thế giới, trong nƣớc và ứng dụng trong DH nói chung và DH Sinh học nói riêng 1. Trên thế giới Năm 1968, BĐKN tích hợp đa phương tiện được phát sinh từ lý thuyết tiếp thu kiến thức của David Ausubel. Theo David Ausubel, tiếp thu kiến thức một cách logic xuất hiện khi kiến thức mới liên hệ có ý thức, có mục đích với kiến thức trước. Sự tiếp thu kiến thức logic là người học sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và dễ áp dụng trong các tình huống hơn là tiếp thu bằng cách học vẹt.
Năm 1972, trong chương trình nghiên cứu của Joseph D. Novak và cộng sự ở đại học Cornell, BĐKN tích hợp đa phương tiện đã được phát triển. BĐKN tích hợp đa phương tiện được trình bày bằng sơ đồ những KN và mối quan hệ của chúng, giúp sinh viên tổ chức thông tin về các KN khoa học theo logic tạo thuận lợi cho việc học. BĐKN tích hợp đa phương tiện dựa trên tiền đề là các KN không tồn tại riêng biệt mà có quan hệ với những KN khác [16, 17].
Năm 1984, Novak và Gowin đã phát triển kỹ thuật BĐKN tích hợp đa phương tiện nhằm đánh giá kiến thức KN của người học. Ông cũng sử dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện để xác định những thay đổi đang xảy ra trong nhận thức của sinh viên. Năm 1998, Novak, Mintzes và Wandersee đã nhận thấy từ mục đích đầu tiên của BĐKN tích hợp đa phương tiện là xác định những kiến thức đã có của người học. Theo Novak “Sự tạo thành kiến thức mới không chỉ là sự học hiểu ở trình độ cao mà còn phụ thuộc vào cách tổ chức cấu trúc kiến thức của mỗi cá nhân trong những vùng nhận thức riêng biệt, và thậm chí còn phụ thuộc vào cảm hứng trong việc tìm ra kiến thức mới”, “Trong DH, sáng tạo, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và sử dụng kiến thức BĐKN tích hợp đa phương tiện như là công cụ hiệu quả trong trường học” [16].
Ngoài ra, BĐKN tích hợp đa phương tiện cũng được nghiên cứu trong việc lập kế hoạch giảng dạy (Bascones & Novak, 1985; Novak, 1991; Novak, 1998) và đã ứng dụng ở trường đại học Cornell (Hoa Kì) [16]. Hiện nay BĐKN tích hợp đa phương tiện đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi với nhiều mục đích khác nhau như giúp người học ghi nhớ KN, đánh giá kết quả học tập, lập kế hoạch giảng dạy… Ngay từ khi mới được nghiên cứu, các nhà khoa học và giáo dục đã tìm cách ứng dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện vào nghiên cứu cũng như hoạt động giảng dạy môn Sinh học tại các nhà trường. Theo công trình nghiên cứu của J. Ứng dụng có hiệu quả nhất của BĐKN tích hợp đa phương tiện trong việc giảng DH tập là cách tổ chức thứ bậc trong cấu trúc.
Năm 1995, Soyibo đã nghiên cứu sử dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện để so sánh nội dung kiến thức trong SGK Sinh học. Năm 1999, Bahar và cộng sự cho đề kiểm tra là dựa vào các từ cho sẵn để vẽ BĐ kiến thức về các lĩnh vực cơ bản của DTH dành cho sinh viên năm đầu tiên ngành Sinh học. Kết quả nghiên cứu của Bahar cho thấy đa số sinh viên có thể tạo được bản đồ với khoảng mười từ chìa khóa. Kinchin coi BĐKN tích hợp đa phương tiện là công cụ hỗ trợ cho DH Sinh học vì vậy việc ứng dụng là rất cần thiết.
Trong đề tài nghiên cứu “ Concept Maps: A Tool for Use in Biology Teaching” Stewart, James và cô ̣ng sự đã khái quát mô ̣t số hình thức sử du ̣ng BĐKN tích hợp đa phương tiện trong DHKN sinh ho ̣c, với hai mô hình cu ̣ thể sử du ̣ng BĐKN tích hợp đa phương tiện để dạy di truyền và sinh thái học. Các tác giả cũng đề xuất viê ̣c sử du ̣ng BĐKN tích hợp đa phương tiện như 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mô ̣t công cu ̣ giảng da ̣y , thiế t kế chương trình cũng như là phương tiê ̣n đánh giá thành quả học tập của HS. Trong dạy và học môn Sinh học, các KN tồn tại riêng biệt, mỗi KN độc lập có liên quan đến các KN khác. Mỗi một BĐKN tích hợp đa phương tiện mô tả thứ bậc và các mối quan hệ của tất cả các KN trong đó.
Quá trình xây dựng BĐKN tích hợp đa phương tiện đòi hỏi một tư duy trực tiếp tổng hợp. Trong cố gắng này, phải xác định các KN chính và các KN phù hợp với mỗi chủ đề. Điều đó yêu cầu phải hiểu sâu về chủ đề và loại bỏ được bất kỳ một KN nhầm lẫn nào. Một ưu điểm lớn của việc sử dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện trong dạy Sinh học đó là việc cung cấp những hình ảnh trực quan của KN mà qua đó việc học được tập trung và rõ ràng hơn.
Điều đó giúp GV chuyển những hình ảnh và những mối quan hệ giữa các KN trong chủ đề tới người học một cách dễ dàng. Năm 2008, Firas Corri & Radwan O. AL-Abed đã chỉ ra rằng BĐKN tích hợp đa phương tiện cũng giúp GV kiểm tra được kiến thức của HS qua việc xây dựng cấu trúc bản đồ, nắm bắt các mối liên kết cũng như tạo ra các liên kết mới một cách phù hợp với chủ đề đang nghiên cứu. Bằng cách như vậy, sử dụng thành thạo BĐKN tích hợp đa phương tiện cũng giúp người học có thể tự đánh gía được kiến thức của mình trong lĩnh vực môn học.
Còn trong tài liệu “Using concept maps in Biology Lesons” cũng của hai tác giả trên đã cho rằng việc sử dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện trong dạy học Sinh học là có hiệu quả. Theo nghiên cứu này, các sinh viên tỏ ra nhất trí cao với việc sử dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện và nhận ra các giá trị trong đó[15]. Ở trong nước Ở trong nước, BĐKN tích hợp đa phương tiện còn là một KN mới mẻ, mới chỉ có các nghiên cứu ban đầu của các nhà khoa học và giáo dục điển hình như Nguyễn Phúc Chỉnh [3], Phan Đức Duy [5]. Các tác giả chủ yếu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu về cơ sở lý luận, vai trò và đưa ra quy trình xây dựng BĐKN tích hợp đa phương tiện trong DH.
Một số trường Đại học như Đại học Cần Thơ đã đưa BĐKN tích hợp đa phương tiện vào DH. Một số chương trình giáo dục nước ngoài tại nước ta cũng sử dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện như chương trình Intel. Năm 2007, Đặng Thị Quỳnh Hương đã nghiên cứu và bước đầu ứng dụng BĐKN tích hợp đa phương tiện trong dạy học Sinh học (luận văn thạc sỹ), trong đó tác giả chú ý đến việc xây dựng một số BĐKN tích hợp đa phương tiện trong chương trình Sinh học phổ thông như sinh sản, trao đổi chất, hô hấp, quang hợp. Năm 2009, Trương Công Năng đã nghiên cứu và xây dựng BĐKN tích hợp đa phương tiện trong DH chương Cảm ứng, Sinh học 11 THPT và Kiều Thị Kim Khánh cũng đã nghiên cứu và xây dựng BĐKN tích hợp đa phương tiện để DHKN Sinh học THPT phần Sinh trưởng và phát triển.
Cơ sở lý luận của đề tài 1. Định nghĩa khái niệm Trong tư duy của con người , các sự vật hiện tượng được phản ánh thông qua các dấ u hiê ̣u cơ bản và không cơ bản , trong đó các dấ u hiê ̣u cơ bản khác biê ̣t của đố i tươ ̣ng đươ ̣c phản ánh trong nhâ ̣n thức của con người ta ̣o thành dấu hiệu của KN biểu thị sự vật đó. Bấ t kỳ mô ̣t hành đô ̣ng tư duy nào cũng mang đặc trưng tư duy bằng KN , không có KN không thể tư duy đươ ̣c Một số tác giả đã định nghĩa KN như sau: Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành (1998): “KN là những tri thức khái quát về những dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung nhất của từng nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại; về những mối liên hệ và tương quan tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng khách quan” [1, tr108]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Lê Thanh Thập (2000): “KN là một hình thức của tư duy phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất đặc trưng của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan ” [13, tr.
Theo Vương Tất Đạt (2007): “KN là hình thức của tư duy, trong đó phản ánh dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng nhất. Trong KN, thứ nhất, bản chất của các sự vật được phản ánh, thứ hai, sự vật hay lớp sự vật nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu cơ bản khác biệt” [9. Như vậy, KN là hình thức cơ bản của tư duy, phản ánh những dấu hiệu, thuộc tính chung nhất, bản chất nhất của từng nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại, về những mối tương quan tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng khách quan. Bản chất của KN Các sự vật hiện tượng được phản ánh thông qua các dấu hiệu cơ bản và không cơ bản , trong đó các dấ u hiê ̣u cơ bản khác biê ̣t của đố i tươ ̣ng đươ ̣c phản ánh trong nhận thức của con người tạo thành dấu hiệu của KN biểu thị sự vâ ̣t đó.
Bấ t kỳ mô ̣t hành đô ̣ng tư duy nào cũng mang đă ̣c trưng tư duy bằ ng KN, không có KN sẽ không có tư duy. Logic hình thức xem “KN là một yếu tố đơn giản của sự suy nghĩ, là một bộ phận của phán đoán, KN chỉ là công cụ suy nghĩ và có tính chất qui ước để thuận tiện cho việc trao đổi sự suy nghĩ”. Các nhà triết học duy tâm hạ thấp vai trò của KN nên xem xét các KN khoa học chỉ là công cụ của nhận thức khoa học, chỉ là những từ mà đằng sau chúng không có hiện thực nào cả. Logic biện chứng xem “KN là sự kết tinh nhận thức của con người, KN là hình thức tư duy phản ánh sự vận động, phát triển của thực tại khách quan.