Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn các vấn đề về bài tập vật lí, bài tập định tính nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh. * Cơ sở lý luận chung: Bài tập, bài tập định tính trong dạy học vật lí; năng lực sáng tạo. * Điều tra, khảo sát thực tiễn: Xây dựng và sử dụng bài tập định tính chƣơng “Động học chất điểm” Vật lí 10 của giáo viên, năng lực sáng tạo của học sinh. Chương 2: Phương thức xây dựng, sử dụng, dạy học bài tập định tính chương “Động học chất điểm” Vật lí 10 theo hướng gắn với thực tế phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm Sử dụng hệ thống bài tập định tính đã xây dựng vào thực nghiệm sƣ phạm và khảo sát tính hiệu quả của đề tài. Phụ lục Tài liệu tham khảo. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÁC VẤN ĐỀ VỀ BÀI TẬP VẬT LÍ, BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu đề tài Bài tập định tính vật lí xuất hiện trên các sách báo nhiều năm trƣớc đây.
Ngƣời ta đã từng đƣa ra nhiều tên gọi khác nhau về loại bài tập này nhƣ: “Câu hỏi thực hành”, “Câu hỏi để lĩnh hội”, “Bài tập logic”, “Bài tập định tính”, “Câu hỏi kiểm tra”, Tuyển tập câu hỏi định tính vật lí, Sử dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí… Sự đa dạng trong cách gọi tên nhƣ vậy phần nào cho thấy chúng có ƣu điểm về phƣơng pháp ở nhiều mặt, vì mỗi một tên gọi đều phản ánh ƣu điểm theo một khía cạnh nào đó. Nhờ đƣa đƣợc lý thuyết vừa học lại gần với đời sống xung quanh, các bài tập này làm tăng thêm ở học sinh hứng thú với môn học, tạo điều kiện phát triển óc quan sát của học sinh. Vì phƣơng pháp giải loại bài tập này bao gồm việc xây dựng tƣ duy logic dựa trên các định luật vật lí nên chúng là phƣơng tiện rất tốt để phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh. Các khái niệm cơ bản 1.
Bài tập vật lí Xét một cách tổng quát thì “Bài tập vật lí” là hệ thống thông tin xác định bởi hai tập hợp có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau bao gồm: Những điều kiện ban đầu (giả thiết, cái cho trƣớc) và những yêu cầu đặt ra (cái phải tìm). Bài tập vật lí có thể đƣợc diễn đạt dƣới dạng các câu hỏi hay các yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể (ví dụ: Đề xuất phƣơng án thí nghiệm, tính toán để tìm trị số của đại lƣợng, vẽ đồ thị…). Bài tập vật lí có thể đƣợc sử dụng trong mọi khâu của quá trình dạy học và phục vụ đa dạng các mục đích dạy học. Nội dung của bài tập vật lí là các vấn đề mà bản thân ngƣời giáo viên đã biết còn với học trò là đi tìm câu trả lời dựa trên các kiến thức đã biết.
Vì vậy mà bài 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tập vật lí mang đậm yếu tố khám phá, hiệu quả của bải giảng phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bài tập mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học. Bài tập định tính “Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, học sinh không cần phải thực hiện những phép tính phức tạp hay chỉ phải làm những phép tính đơn giản, có thể nhẩm đƣợc. Muốn giải đƣợc những bài tập định tính, học sinh phải thực hiện những phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất (nội hàm) của các khái niệm, định luật vật lí và nhận biết đƣợc những biểu hiện của chúng trong các trƣờng hợp cụ thể. Đa số các bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một hiện tƣợng xảy ra trong điều kiện xác định”.
Bài tập có nội dung thực tế: Là bài tập có đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp tới đối tƣợng có trong đời sống, kĩ thuật. Dĩ nhiên những vấn đề đó đã đƣợc thu hẹp và đơn giản hóa đi nhiều so với thực tế. Trong các bài tập có nội dung thực tế, những bài tập mang nội dung kĩ thuật có tác dụng lớn về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Nội dung của các bài tập này phải thỏa mãn các yêu cầu: + Nguyên tắc hoạt động của các đối tƣợng kĩ thuật nói đến trong bài tập phải gắn bó mật thiết với những khái niệm và định luật vật lý đã học.
+ Đối tƣợng kĩ thuật này phải có ứng dụng khá rộng rãi trong thực tiễn sản xuất của nƣớc ta hoặc địa phƣơng nơi trƣờng đóng. + Số liệu trong bài tập phải phù hợp với thực tế sản xuất. + Kết quả của bài tập phải có tác dụng thực tế, tức là phải đáp ứng một vấn đề thực tiễn nào đó. Thực tế, thực tiễn trong dạy học vật lí Trong luận văn này, khái niệm “thực tế” đƣợc hiểu là những gì đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên, về mặt có quan hệ đến đời sống con ngƣời (bao gồm cả các hoạt động vật chất của con ngƣời).
“Thực tiễn” là hoạt động của con ngƣời nói chung. Trong dạy học vật lí giáo viên cần rèn luyện cho học sinh thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực tiễn, tức là học sinh sử dụng kiến thức vật lí để định hƣớng hay điều chỉnh hoạt động vật chất của mình (các hoạt động có liên quan tới kiến thức vật lí). Năng lực sáng tạo của học sinh trong học BTĐT môn Vật lí 1. Khái niệm năng lực.
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”. Ngày nay, năng lực đƣợc hiểu dƣới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi - behavioural approach) thì năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, đƣợc hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kĩ năng cụ thể. Theo từ điển tiếng Việt “năng lực” đƣợc hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc “là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao”.
Trong những năm gần đây, năng lực đƣợc nhìn nhận bằng cách tiếp cận tích hợp. Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2000): “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hƣớng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì “Năng lực đƣợc quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất định.
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của ngƣời lao động, kiến thức và kỹ năng) đƣợc thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi ngƣời lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi”. Định hƣớng chƣơng trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có nhƣ: - Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực quản lí bản thân. - Năng lực xã hội, bao gồm: Năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác.
- Năng lực công cụ, bao gồm: Năng lực tính toán; năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC) Nhƣ vậy, năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, gắn liền với kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, tinh thần vƣợt khó, đạo đức. Đồng thời nó chứa linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết tốt các nhiệm vụ trong nhiều tình huống khác nhau, trong lĩnh vực khác nhau. Tổng hợp lại, có thể đƣa ra khái nhiệm năng lực nhƣ sau: Năng lực là khả năng thực hiện tốt, trách nhiệm một nhiệm vụ, một hoạt động nào đó trong những tình huống khác nhau. Dựa trên sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm và tinh thần vượt khó.
Sự hình thành và phát triển năng lực Hình thành và phát triển năng lực là một quá trình phức tạp. Bản thân quá trình hình thành năng lực là một quá trình mang tính chất chỉnh thể và trọn vẹn nhƣng rất phức tạp của sự phát triển nhân cách trong hoạt động và bằng hoạt động ấy. Tâm lí học hiện đại cho rằng: Con ngƣời mới sinh ra chƣa có năng lực, chƣa có nhân cách. Chính qua quá trình sống, học tập, lao động, giao lƣu.
Con ngƣời tiếp thu đƣợc tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm…đã hình thành và phát triển nhân cách cũng nhƣ năng lực cá thể. Sự hình thành và phát triển năng lực của con ngƣời chịu tác động của nhiều yếu tố: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Yếu tố sinh học: Di truyền tạo ra những điều kiện ban đầu để con ngƣời có thể hoạt động có kết quả trong một lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, sự thành công của một cá nhân trong một lĩnh vực nào đó phần lớn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, vào lao động học tập và rèn luyện cũng nhƣ sự tích lũy kinh nghiệm của cá nhân. + Yếu tố môi trường xã hội: Mỗi con ngƣời đều hoạt động trong một môi trƣờng xã hội nhất định, môi trƣờng góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phƣơng tiện, hành động và đặc biệt là cho hoạt động giao lƣu của mỗi cá nhân đối với xã hội mà nhờ đó mỗi cá nhân thu đƣợc những kinh nghiệm trong xã hội loài ngƣời và biến nó thành của mình.