PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lịch sử nước ta phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, theo đó mỗi giai đoạn tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau mà có cách thức quản lý khác nhau. Cho đến đầu thế kỷ XX, lịch sử hành chính nước ta đã trải qua 10 cuộc cải cách, đổi mới lớn (theo cuốn Mười cuộc cải cách đổi mới trong lịch sử Việt Nam của tác giả Văn Tạo). Mỗi cuộc cải cách, đổi mới hướng đến một mục tiêu cụ thể khác nhau, nhưng đều được thực hiện nhằm cải tổ lại cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, giúp việc quản lý đất nước được thực hiện hiệu quả hơn.
Nhiều triều đại phong kiến đã nhận thức được vai trò của đội ngũ quan lại đối với sự phát triển hưng thịnh của đất nước, do vậy các cuộc cải cách, đổi mới gắn liền với cách tân chế độ quan lại rất được quan tâm, chú trọng. Triều Lê sơ (1428-1527) là triều đại được đánh giá có nhiều thành tựu trong quá trình cách tân và phát triển đất nước nhất, được coi là đỉnh cao phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Cải cách hành chính được thực hiện toàn diện, mạnh mẽ và thành công nhất dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497). Trong suốt 38 năm trị vì đất nước, Lê Thánh Tông đã sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc quân sự, đánh dẹp các quốc gia mở rộng bờ cõi, khiến cho nước Nam bấy giờ văn minh hơn và lẫy lừng một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy.
Lê Thánh Tông đã tập trung vào việc xây dựng một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền vững chãi, xây dựng và ban hành Bộ Luật Hồng Đức – bộ luật đầu tiên của Việt Nam có quy định đầy đủ và chặt chẽ hơn so với Luật lệ của các nước láng giềng thời bấy giờ, đưa Bộ Luật Hồng Đức trở thành khung pháp lý cho toàn bộ hoạt động của quan lại trong triều cũng như người dân Đại Việt. Bằng việc kết hợp giữa pháp trị và đức trị, Lê Thánh Tông đã gây dựng và phát triển đội ngũ quan lại và trọng dụng nhân tài cống hiến cho đất nước, góp phần tạo ra một trật tự quy củ trong việc quản lý và sử dụng đội ngũ quan lại. Việc đánh giá nhân tài nói chung và kiểm tra, đánh giá đội ngũ quan lại trong triều nói riêng là một trong những hoạt động được vua Lê nhận thấy vô cùng quan trọng và cần kíp để đưa Đại Việt trở nên ngày càng thịnh vượng. Chính vì lẽ đó, trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, Lê Thánh Tông đã thực hiện cải cách toàn diện, đồng bộ trên các 2 lĩnh vực, và tập trung nhiều hơn vào cải cách chế độ quan lại, nổi bật lên trong những chính sách được ban hành và áp dụng đó là lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông.
Thông qua lệ khảo thí, khảo khóa, Lê Thánh Tông muốn đánh giá chính xác năng lực và phẩm hạnh của đội ngũ quan lại nhằm lựa chọn kẻ sĩ người tài phục vụ cho đất nước; đồng thời cũng để loại bỏ những người đã làm quan mà không cố gắng nỗ lực hết mình vì dân vì nước. Bằng việc thể chế hóa các quy định của triều đình, ban hành Bộ Luật Hồng Đức và các chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, Lê Thánh Tông đã có một cường quốc hưng thịnh được các triều đại sau học tập và noi theo. Đó luôn là cơ sở, là nền tảng, là bài học quý báu để những nhà lãnh đạo hiện nay rút ra bài học trong quá trình xây dựng, cách tân đổi mới đất nước. Khổng Tử - nhà tư tưởng lỗi lạc của Trung Quốc thời xưa cho rằng, biết “ôn cố tri tân” – học hỏi từ lịch sử để mở mang hơn ở hiện tại, thì có thể làm bậc thầy trong thiên hạ.
Nhìn lại và đánh giá những thành tựu và hạn chế đã trải qua trong các giai đoạn lịch sử, rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển đất nước nói chung, đội ngũ quan lại nói riêng là một hoạt động có ý nghĩa kế thừa quan trọng khi nghiên cứu về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông. Hiện nay, việc đánh giá cán bộ, công chức ở nước ta được thực hiện đều đặn vào tháng 12 hàng năm, riêng đối với các cơ sở giáo dục công lập được thực hiện đánh giá công chức vào thời điểm kết thúc năm học (thường vào ngày 01 tháng 7 hàng năm). Việc đánh giá cán bộ, công chức nhằm xếp hạng cán bộ, công chức; từ đó tạo cơ sở để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ, công chức. Nhận thức được vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức trong việc xây dựng đất nước, Đảng xác định lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ chủ yếu để đánh giá cán bộ.
Sau Đại hội XII của Đảng, ngày 04 tháng 8 năm 2017 Bộ Chính trị đã ban hành hai quy định: Quy định số 89-QĐ/TW, “Quy định khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, Quy định số 90-QĐ/TW, “Quy định tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” nhằm định hướng việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Trên cơ sở đó, Chính phủ cũng ban 3 hành hệ thống Nghị định quy định chi tiết hơn về việc đánh giá công chức đang làm việc trong bộ máy nhà nước. Để thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra, cần kết hợp giữa tri thức khoa học hành chính hiện đại, học tập kinh nghiệm cải cách hành chính từ lịch sử nước mình và các quốc gia phát triển trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có điều kiện hoàn cảnh tương xứng; với tinh hoa truyền thống trong cải cách hành chính của lịch sử dân tộc, từ đó, xây dựng một nền hành chính vừa hiện đại vừa mang bản sắc riêng. Đánh giá cán bộ, công chức hiện nay ở nước ta đã đạt được những thành tựu khá tốt, song cần nhìn lại những quy chuẩn đã được đặt ra dưới thời Lê Thánh Tông để nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc đánh giá.
Bằng niềm say mê với lịch sử nước nhà, đặc biệt là lịch sử cải cách hành chính, với sự quan tâm về việc đánh giá cán bộ, công chức của nước ta hiện nay, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Quản lý công của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Lịch sử hành chính là một trong những đề tài được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhằm đúc rút những bài học kinh nghiệm quý giá của ông cha ta trong quá trình cai trị đất nước. Những bài học này giúp cho việc xây dựng và ban hành hệ thống chính sách, pháp luật hiện nay được tốt hơn. Có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ và góc độ khác nhau về những nội dung liên quan đến đề tài Luận văn.
Dưới đây, Luận văn xin giới thiệu tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó chỉ ra những nội dung đã được nghiên cứu trong các công trình đó, những nội dung chưa sáng rõ, cụ thể cần tiếp tục đặt ra để nghiên cứu và đúc rút thành bài học kinh nghiệm có thể vận dụng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý cán bộ, công chức; góp phần quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức hiệu quả hơn ở Việt Nam hiện nay. Một là, nhóm các bộ sử ghi chép lịch sử thời Lê Phan Huy Chú với Lịch triều hiến chương loại chí được coi là một bách khoa toàn thư về khoa học xã hội của Việt Nam, đó là một tài liệu quý báu cho công tác nghiên cứu và xây dựng các khoa học xã hội. Lịch triều hiến chương loại chí với 49 quyển chia ra thành 10 bộ môn nghiên cứu khác nhau. Trong tất cả các bộ môn nghiên cứu, Phan Huy Chú tập trung nghiên cứu các sự kiện từ triều Lê trở về trước, thường chú trọng nghiên cứu đặc biệt 4 về triều Lê, còn triều Nguyễn thì ông không nhắc đến.
Bộ sách nghiên cứu tường tận và cụ thể từ tình hình địa lý, lịch sử địa lý; tiểu sử vua chúa, quan lại, nho sĩ, tướng sĩ; đến lịch sử chế độ quan liêu; lễ nghi triều đình; từ chế độ khoa cử đến chế độ thuế khóa, tài chính; từ tình hình pháp luật, tổ chức quân sự đến các chính sách và nghi lễ ngoại giao, lịch sử ngoại giao của triều Lê. Những vấn đề lịch sử liên quan nhà Lê được cuốn sách ghi chép lại một cách khoa học và chính xác, góp phần tái hiện chân thực lịch sử nước ta đương thời. Năm 1977, Viện sử học và Nhà xuất bản văn hóa – thông tin cho ra mắt cuốn Lê triều quan chế do Phạm Văn Liệu dịch và chú giải. Lê triều quan chế viết khá toàn diện và chi tiết về bộ máy nhà nước và chế độ quan lại dưới thời Hồng Đức (1471 – 1497) đời Lê Thánh Tông; ngoài ra sách cũng nêu quan chế của các triều trước, như niên hiệu Kiên Trung (1225-1231) triều Trần Thái Tông, niên hiệu Thuận Thiên (1428-1433) triều Lê Thái Tổ, niên hiệu Thiệu Bình (1434-1440) triều Lê Thái Tông, và cả niên hiệu Quang Thuận (1460 – 1470) – niên hiệu đất nước trong những năm đầu Lê Thánh Tông trị vì.
Cuốn sách được xác định biên soạn sớm nhất vào khoảng cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, tập trung nghiên cứu về quan chế ở nước ta thời trung đại và cung cấp nhiều chi tiết mà các cuốn sách khác từng chép về quan chế thời Lê còn chưa đề cập đến hoặc đề cập đến nhưng chưa cụ thể, chi tiết.