mở đầu thời đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc”; cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp 11 công nhân và nhân dân các nước và thúc đẩy sự ra đời của nhiều Đảng cộng sản. Đối với các dân tộc thuộc địa, cách mạng tháng Mười nêu một tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản, do V.Lênin đứng đầu, được thành lập, trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới. Quốc tế Cộng sản không những vạch đường hướng chiến lược cho cách mạng vô sản mà cả đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ, chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc.
Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược và sách lược về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc đẩy phong trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản. Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920) đã thông qua luận cương về dân tộc và thuộc địa do V.Lênin khởi xướng. Cách mạng Tháng Mười và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam và Đông Dương. Tình hình Việt Nam a.
Xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp * Chính sách thống trị của thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Năm 1884, với Hiệp ước Patơnot, Pháp đã hoàn thành xâm lược Việt Nam. Pháp đã từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam. Về chính trị: thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị chuyên chế về chính trị với bộ máy đàn áp nặng nề và thực hiện chính sách chia để trị.
Về kinh tế: thực dân Pháp du nhập một cách không hoàn chỉnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mặt khác để đảm bảo cho chính sách thống trị của chúng, Pháp đã không thủ tiêu lợi ích của giai cấp phong kiến mà còn tìm cách dung dưỡng nó biến nó thành cơ sở xã hội vững chắc cho sự thống trị của chúng. Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề. Về văn hóa: thực hiện chính sách văn hóa nô dịch, ngu dân, gây tâm lý tự ti vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan phát triển.
Ngăn cản ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ du nhập vào Việt Nam. Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương là chính sách chuyên chế về chính trị, kìm hãm, nô dịch về văn hóa, bóc lột nặng 12 nề về kinh tế ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam. Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hoá, duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng “khai hoá văn minh” của nước “Đại Pháp”. * Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp đã làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam.
Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi, xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến thuần túy sang xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Bên cạnh mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân Việt Nam với địa chủ phong kiến đã xuất hiện thêm mâu thuẫn dân tộc giữa toàn dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp. Lịch sử Việt Nam đặt ra 2 yêu cầu: đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập, tự do và xóa bỏ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
Các giai cấp cũ bị phân hóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc. Giai cấp địa chủ phong kiến, đặc điểm của xã hội thuộc địa ở Việt Nam là sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp và địa chủ phong kiến. Vì vậy, giai cấp địa chủ phong kiến không những không bị mất đi mà còn ngày càng phát triển. Trong quá trình phát triển, giai cấp địa chủ phong kiến bị phân hóa thành 3 bộ phận: đại địa chủ, trung địa chủ và tiểu địa chủ.
Đại địa chủ có quyền lợi kinh tế gắn chặt với đế quốc nên sẽ là đối tượng cách mạng cần phải đánh đổ. Trung và tiểu địa chủ là bộ phận địa chủ vừa và nhỏ chịu sự chèn ép về kinh tế bởi đế quốc và đại địa chủ nên có mâu thuẫn với đế quốc và đại địa chủ do đó họ có thể trở thành lực lượng cách mạng. Giai cấp nông dân, Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân Việt Nam chiếm 90% dân số. Giai cấp nông dân phải chịu 3 tầng áp bức nên có mâu thuẫn với đế quốc, địa chủ, tư sản.
Giai cấp nông dân vừa có nhu cầu độc lập dân tộc, vừa có nhu cầu ruộng đất song nhu cầu độc lập là bức thiết nhất. “Tinh thần cách mạng của nông dân không chỉ gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với tình cảm quê hương đất nước, với nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc”. Đây là lực lượng hùng hậu, có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại ruộng đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến. Tuy nhiên, giai cấp nông dân Việt Nam không đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất nên không thể là giai cấp lãnh đạo cách mạng.
13 Giai cấp tư sản, giai cấp tư sản ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam đã trở thành một giai cấp. Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản bị phân hóa thành hai bộ phận đó là tư sản mại bản và tư sản dân tộc.
Tư sản mại bản bao gồm những tư sản lớn hợp tác kinh doanh với đế quốc thực dân. Có quyền lợi kinh tế, chính trị gắn liền với đế quốc, thực dân nên bộ phận này đối lập với dân tộc và là đối tượng mà cách mạng cần phải đánh đổ. Tư sản dân tộc bao gồm những tư sản vừa và nhỏ thường hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, có mâu thuẫn về quyền lợi với đế quốc, phong kiến nên tư sản dân tộc sẽ là lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào giải phóng dân tộc. Tầng lớp tiểu tư sản, tiểu tư sản Việt Nam bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: học sinh, sinh viên, trí thức, viên chức, thợ thủ công, tiểu thương, tiểu thủ và những người làm nghề tự do, buôn bán nhỏ.
Trong đó trí thức là bộ phận quan trọng nhất. Địa vị kinh tế bấp bênh, luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp. Có tinh thần yêu nước, rất hăng hái cách mạng. Họ đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh vì tự do của dân tộc.
Tuy nhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, thái độ hay dao động, thiếu kiên định, do đó tầng lớp tiểu tư sản không thể lãnh đạo cách mạng. Giai cấp công nhân, giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, giai cấp công nhân Việt Nam đã hình thành đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng từ 10 vạn (1914) lên 22 vạn (1929). Giai cấp công nhân Việt Nam tuy ít nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc điểm của giai cấp công nhân thế giới.
Bên cạnh đó, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân từ nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ bé, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng. Giai cấp công nhân khi được tổ chức lại được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác-Lênin, giai cấp công nhân sẽ trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng. Các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam trước khi có Đảng * Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến Phong trào Cần Vương (1885-1896), Phong trào Cần vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng. Hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương cứu nước, các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh)… diễn ra sôi nổi và thể hiện tinh thần quật 14 cường chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân.
Nhưng ngọn cờ phong kiến lúc đó không còn là ngọn cờ tiêu biểu để tập hợp một cách rộng rãi, toàn thể các tầng lớp nhân dân, không có khả năng liên kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc nữa. Cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng thất bại (1896) cũng là mốc chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiến đối với phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam. Phong trào nông dân Yên Thế (1884-1913), vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở vùng miền núi và trung du phía Bắc, phong trào nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của vị thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám, nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, lập căn cứ và đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp.