CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP QUỐC TẾ VỀ BIỂN VÀ NGUYÊN TẮC HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ 1. Tranh chấp quốc tế về biển 1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp quốc tế về biển a. Khái niệm tranh chấp quốc tế về biển Trong đời sống xã hội, giữa các cá nhân, tổ chức sẽ khó có thể tránh khỏi những xung đột, tranh chấp với những chủ thể khác.
Theo cách hiểu thông thường, tranh chấp là những bất đồng, quan điểm trái ngược nhau, mâu thuẫn giữa các bên liên quan đến một hay nhiều vấn đề nào đó trong cuộc sống. Đó có thể là những vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, tư tưởng, tôn giáo,. hay trên các lĩnh vực như dân sự, lao động, sở hữu trí tuệ,. Trong sự kiện nhượng bộ Mavrommatis Palestine (The Mavrommatis Palestine Concessions), Tòa PCIJ lần đầu tiên đưa ra định nghĩa về tranh chấp: “Một tranh chấp là một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay một sự thật; là một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên”1.
Tranh chấp không đơn thuần chỉ diễn ra giữa những chủ thể trong một quốc gia mà còn xuất hiện trên phạm vi quốc tế, ví dụ như tranh chấp giữa các quốc gia trên thế giới. Như vậy, có thể thấy phạm vi của tranh chấp rất rộng, trong đó bao gồm cả tranh chấp quốc tế giữa những chủ thể của luật quốc tế. Nguồn gốc dẫn đến các xung đột, tranh chấp quốc tế thường bắt nguồn từ những nguyên nhân sau2: (i) Do việc giải thích và thực hiện pháp luật quốc tế hoặc các nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà các chủ thể đã cam kết phù hợp với pháp luật quốc tế. Ví dụ như tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc về “đường chín đoạn” mà Trung Quốc yêu sách tại Biển Đông là tranh chấp trong việc giải thích và áp dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế; (ii) Do cách giải thích hoặc bày tỏ quan điểm ủng hộ hay phản đối của các chủ thể luật quốc tế về một sự kiện pháp lý nào đó diễn ra trong thực tiễn; (iii) Xuất phát từ việc quốc gia thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp của mình nhưng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền và lợi ích của các chủ thể khác của luật quốc tế hoặc ảnh hưởng đến các quan hệ quốc tế được luật quốc 1 The Mavrommatis Palestine Concessions (Greece v.
Great Britain), 30/8/1924, tr. Nguyên văn tiếng Anh: “A dispute is a disagreement on a point of law or fact, a conflict of legal views or of interests between two persons”. 2 Ngô Hữu Phước (2010), Sách chuyên khảo Luật Quốc tế, NXB chính trị quốc gia, tr. 11 tế xác lập và bảo vệ như quyền con người, môi trường, y tế, hòa bình và an ninh quốc tế, quản lý lãnh thổ, biên giới quốc gia,.
Có thể đi đến kết luận về tranh chấp quốc tế như sau: Tranh chấp quốc tế là những xung đột, mâu thuẫn, quan điểm trái chiều giữa những chủ thể của luật quốc tế về quyền và lợi ích của các bên hay về một vấn đề, sự kiện pháp lý, chính trị,. Biển và đại dương - một nguồn lực kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng vô cùng vững mạnh, đem lại rất nhiều lợi ích cho các quốc gia. Chính vì thế mà từ xưa đến nay, những cuộc tranh chấp, xác định chủ quyền biển giữa các nước diễn ra vô cùng nhiều. Đây là một trong những mầm mống có thể gây ra chiến tranh, đe dọa đến hòa bình, an ninh quốc tế cho các nước trong khu vực hoặc thậm chí là trên toàn thế giới.
Theo đó, tranh chấp quốc tế về biển được hiểu là những tranh chấp quốc tế giữa những chủ thể của luật quốc tế về việc xác lập và phân định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đối với các vùng biển theo quy định của luật biển quốc tế3. Đặc điểm tranh chấp quốc tế về biển Từ khái niệm nêu trên, có thể rút ra được 03 đặc điểm của tranh chấp quốc tế về biển như sau: Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp quốc tế về biển là chủ thể của luật quốc tế, mà chủ yếu là các quốc gia - chủ thể đầu tiên và cơ bản nhất của luật quốc tế. Kế đến là các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức quốc tế liên chính phủ về biển do các quốc gia thỏa thuận thành lập và các chủ thể đặc biệt khác. Ngoài ra, tranh chấp quốc tế còn xảy ra giữa những chủ thể khác như các công ty biển.
Chúng có đóng góp không nhỏ trong việc hình thành các quy chuẩn của luật biển quốc tế4; Thứ hai, đối tượng trong tranh chấp quốc tế về biển chủ yếu là việc xác định chủ quyền, xác lập quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán trên biển; Thứ ba, khách thể của tranh chấp quốc tế là quyền và lợi ích vật chất, tinh thần mà các chủ thể luật quốc tế mong muốn đạt được. Nhưng khác với các tranh chấp khác, tranh chấp quốc tế thường mang tầm vĩ mô, ảnh hưởng sâu rộng đến các chủ thể chẳng hạn như tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Cụ thể, khách thể trong tranh chấp quốc tế về biển là chủ quyền lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia đối với vùng biển của mình. Thông qua đó, quốc gia có thể sử dụng, khai thác, thu lợi về cho nước mình.
Ngoài ra, quốc gia có thể đưa 3 Ngô Hữu Phước (2010), Sách chuyên khảo Luật Quốc tế, NXB chính trị quốc gia, tr. 4 Nguyễn Hồng Thao (1997), Giáo trình chuyên khảo về Luật biển quốc tế, tr. 12 ra những chính sách phát triển phù hợp cho vùng biển của họ, cũng như hợp tác với những quốc gia khác. Phân loại tranh chấp quốc tế về biển a.
Các loại tranh chấp quốc tế về biển Tranh chấp trên biển, cũng như những tranh chấp quốc tế khác, đều bắt nguồn từ xung đột về lợi ích giữa các quốc gia. Chính vì vậy, loại tranh chấp này rất đa dạng bởi sự phong phú về khách thể của tranh chấp. Hiện nay, để phân loại những tranh chấp về biển, các nhà nghiên cứu đã dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến một số căn cứ phổ biến sau đây: (i) Nếu xét đến đối tượng tranh chấp thì tranh chấp trên biển bao gồm tranh chấp đảo, quần đảo, bãi cạn,. Tranh chấp trong nhóm này có số lượng rất lớn vì đối tượng trong các vụ tranh chấp này là các vật thể trên biển (chúng cực kỳ nhiều, đa dạng); (ii) Nếu xét đến lĩnh vực tranh chấp thì tranh chấp trên biển có thể là các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị,.; (iii) Nếu xét đến số lượng chủ thể tham gia tranh chấp thì tranh chấp trên biển bao gồm tranh chấp song phương (tranh chấp có hai chủ thể chính tham gia) và tranh chấp đa phương (tranh chấp với nhiều chủ thể tham gia); (iv) Nếu xét đến hoạt động thực thi quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trên biển thì tranh chấp trên biển có thể bao gồm tranh chấp về quyền đánh bắt cá và nghĩa vụ bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật; tranh chấp liên quan đến quyền tự do hàng hải, tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm ở các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa;.
Trong đó, tranh chấp về quyền đánh bắt cá, đặc biệt khi nó diễn ra ở các vùng biển chồng lấn (chưa phân định chủ quyền) trên Biển Đông, là một loại tranh chấp đang đón nhận rất nhiều sự quan tâm từ các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới, bởi đây là một trong những loại tranh chấp vô cùng quan trọng, có sức ảnh hưởng lớn đến địa vị chính trị cũng như khả năng phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa,. của quốc gia tranh chấp. Ở phần tiếp theo, nhóm tác giả sẽ đi sâu vào phân tích nguyên nhân vì sao làm phát sinh và tính cấp thiết cần phải giải quyết tranh chấp về quyền đánh bắt cá ở vùng biển chưa phân định trên Biển Đông. Sơ lược về tranh chấp về quyền đánh bắt cá ở vùng biển chưa phân định trên Biển Đông Hiện nay, có khoảng 36% diện tích biển và đại dương đã có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia biển kể từ khi UNCLOS 1982 ra đời, còn 13 khoảng 416 tranh chấp về ranh giới biển, thềm lục địa cần được hoạch định5; trong đó, chủ yếu là các vùng biển chưa phân định.
Vùng biển chưa phân định (hay vùng biển chồng lấn) là khu vực biển chưa thể xác định được nó thuộc chủ quyền của quốc gia nào, giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan. Đây là một trong những nguyên nhân trọng yếu gây ra các cuộc tranh chấp quốc tế về biển, vì các quốc gia chưa thể thương lượng để phân định chủ quyền của vùng biển tranh chấp. Ở vùng biển này, hai hay nhiều quốc gia đều có yêu sách hợp pháp theo luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Vùng biển chưa phân định thường xuất hiện giữa các quốc gia có bờ biển tiếp giáp hoặc đối diện nhau, nhưng khoảng cách giữa bờ biển các nước này không đủ để mỗi nước xác lập chiều rộng tối đa cho các vùng biển của mình mà không chồng lấn lên nhau.
Tùy theo khoảng cách bờ biển của các nước nằm đối diện hay kế cận nhau đã tạo ra vùng nội thủy, vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa chồng lấn; trong đó, do vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa có diện tích rộng hơn, nên khả năng xuất hiện vùng biển chồng lấn sẽ nhiều hơn. Loại tranh chấp này có nguyên nhân xuất phát từ việc giải thích và áp dụng các quy định của UNCLOS 19826. Đánh bắt cá không chỉ là hoạt động mang tính kinh tế, mà còn có ý nghĩa về mặt chủ quyền khi đây được xem là bằng chứng cho thấy sự quản lý, kiểm soát hiện hữu tại vùng biển xác định của quốc gia có yêu sách. Nó cũng chính là một trong những nguyên nhân mà khi xảy ra xung đột trong yêu sách phân định vùng biển, một số nước đã ngăn cản tàu thuyền đánh cá của quốc gia khác tiếp cận nơi từng là một ngư trường lớn, một ngư trường quen thuộc với ngư dân nước đó và hệ quả là tranh chấp đánh bắt cá tại những vùng biển chồng lấn ngày càng căng thẳng, gây nhiều thiệt hại cho ngư dân và các quốc gia hữu quan.
Một ví dụ cụ thể là tranh chấp quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) giữa Nhật Bản và Trung Quốc.