Mở đầu. Giới thiệu tổng quan về dé tài, lý do hình thành, mục tiêu, ý nghĩa, phạm vi và phương pháp thực hiện. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Giới thiệu, phân tích tổng quan về Lean concept, các khái niệm, quy tắc, công cụ, phương pháp Lean.
Chương 3: Giới thiệu tổng quan về công ty TNHH May Mặc Bowker Việt Nam và phân tích thực trạng phòng mẫu. Tổng quan về công ty TNHH May Mặc Bowker Việt Nam, lịch sử hình thành, cơ cấu nhân sự, các phòng ban, các sản phẩm và thực trạng phòng mẫu — nơi thực hiện dự án. Chương 4: Đề xuất giảm lãng phí trong quy trình may mẫu counter tại phòng mẫu công ty may mic Bowker Việt Nam. Nêu thực trạng của phòng mẫu, dùng các công cụ Lean dé phân tích về thời gian, chuỗi giá trị dé tìm ra các lãng phí cốt lõi gây bat lợi cho năng suât sản xuât.
Truy tìm các nguyên nhân gây ra các lãng phí và hậu quả các lãng phí mang lại. Qua đó dé xuất các giải pháp nhằm giảm các lãng phi dé rút ngắn thời gian thực hiện, đảm bảo đúng tiến độ giao hang và tăng hiệu suất sản xuất. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Nêu những nội dung, mục tiêu đẻ tài đạt được, những hạn chế của đề tài.
Và kiến nghị áp dụng các giải pháp vào thực tiễn công ty. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET 2. Lịch sử hình thành và phát triển của Lean: Phần lớn các quan niệm của Lean Manufacturing không phải là mới. Rất nhiều quan niệm Lean đã được thực hiện tại Ford trong suốt những năm 1920 và quen thuộc đối với nhiều kỹ sư công nghệ.
Vài năm sau khi thé chiến II kết thúc, Eiji Toyoda (công ty Toyota Motor) đã đi thực tế tại rất nhiều công ty sản xuất xe hơi của Hoa Kỳ dé học hỏi họ và chuyền giao các công nghệ sản xuất xe ô tô của Mỹ sang các nhà máy của Toyota. Cuối cùng, với sự giúp đỡ của Taiichi Ohno và Shigeo Shingo tại Toyota, Toyoda đã giới thiệu và thường xuyên tinh lọc hệ thống sản xuất với mục tiêu là giảm thiểu hoặc loại bỏ các công việc không gia tăng giá trị, những thứ mà khách hàng không mong muốn phải trả tiền thêm. Các quan niệm và kỹ thuật được sử dụng trong hệ thong này được gọi là hệ thống sản xuất Toyota và gan đây nó đã được giới thiệu và trở nên phố biến ở Hoa Kỳ dưới tên mới là sản xuất tinh gọn (Lean Manufacturing). Các quan niệm Lean ngày càng mang tính thực tiễn, không chỉ ở những nơi sản xuất mà còn thực hiện Lean ngay cả khối văn phòng.
Trong vòng khoảng 15 năm nay, một thuật ngữ mới — Lean — đã có mặt trong kho từ vựng về sản xuất. Những người ra quyết định — những nhà lãnh đạo cấp cao, đặc biệt trong quan lý triển khai, chất lượng, các nguồn lực, các hoạt động tác nghiệp và công nghệ, gần đây đã nghe nói nhiều về Lean hơn những phương pháp khác. Lean là một triết lý sản xuất, rút ngăn khoảng thời gian từ khi nhận được đơn hàng của khách hàng cho đến khi giao các sản phẩm hoặc chi tiết bằng cách loại bỏ mọi dạng lãng phí. Sản xuất tiết kiệm giúp giảm được các chi phí, chu trình sản xuất và các hoạt động phụ không cần thiết, không có giá trị, khiến cho công ty trở nên cạnh tranh, mau lẹ hơn và đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Viện tiêu chuẩn và công nghệ mở rộng đối tác sản xuất (NIST/MEP), một cơ quan của bộ thương mại Hoa Kỳ, cho rằng Lean là cách tiếp cận hệ thống nhăm xác định và loại bỏ lãng phí (các hoạt động không có giá tri) thông qua cải tiễn liên tục, sản xuất ra sản phẩm chỉ khi khách hàng cần nó (được gọi là Pull — Kéo), hướng tới sự hoàn thiện. Các lãng phí theo Lean: 2.1 Lãng phí khi vận chuyển: Vận chuyển không tạo ra giá trị cho sản phẩm, bạn với tư cách là một doanh nghiệp thì bạn phải trả lương cho người lao động di chuyển nguyên vật liệu từ nơi này sang nơi khác, một quá trình mà chỉ khiến bạn mất chỉ phí và không tạo ra cái gì cho bạn cả. Lãng phí khi vận chuyền có thé tốn kém chi phí cao cho doanh nghiệp của bạn, ban cần người lao động để di chuyển và thiết bị như xe tải hoặc xe nâng để thực hiện những việc di chuyên nguyên liệu với chi phí dat đỏ.2 Lãng phí trong tồn kho: Tôn kho chứa đựng nhiều van đề: Tén kho cũng khiến ban mất chi phí, mỗi sản phẩm đều phải làm từ nguyên liệu thô, thông qua quá trình sản xuất roi đến hàng hóa hoàn thiện và cho đến khi nó thực sự được bán ra thì đều mất chi phí. Ngoài ra chi phí thuần cho hàng tồn kho của bạn có thé khiến bạn mat thêm các chi phí khác; tồn kho là nguyên nhân gây ra nhiều lãng phí khác.
Tôn kho thì phải lưu vào một nơi nào đó, nó cần không gian, cần phải được đóng gói và phải được vận chuyển loanh quanh. Khi đó sẽ bị hỏng hóc trong quá trình vận chuyên hoặc bị quá han. Lãng phí trong tồn kho an chứa nhiều dạng lãng phí khác trong các hệ thống của bạn.3 Lãng phí trong thao tác: Thao tác thừa của con người hoặc máy móc là một loại lãng phí. Những thao tác không can thiết là những hành động di chuyển của con người hay máy móc mà không nhỏ hoặc không dễ dé hoàn thành khi có thể, giống như khi cúi xuống dé lay những vật nặng ở dưới sàn trong khi chúng nên được để ở tầm ngang thắt lưng để giảm sự căng thăng và thời gian dé lay.
Việc di chuyển quá nhiều giữa các bộ phận làm việc, di chuyền máy móc quá nhiều từ điểm đầu đến noi làm việc là những ví dụ của lãng phí trong thao tác. Tất cả các loại thao tác lãng phí này khiến bạn mất thời gian (tiền) và gây căng thắng cho người lao động và máy móc của bạn, và cuối cùng thì kế cả rô-bốt cũng bị hỏng.4Lãng phí khi chờ đợi: Giảm lãng phí khi chờ đợi sẽ khiến các quá trình của bạn vận hành trơn chu hơn. Bạn thường dành bao nhiêu thời gian chờ đợi một câu trả lời từ một bộ phận khác trong tổ chức của bạn, hay chờ đợi giao hàng từ người cung cấp hay kỹ thuật viên đến và sửa chữa máy móc cho bạn? Chúng ta thường mat rất nhiều thời gian chờ đợi trong khi làm việc (và cả trong cuộc sống thường ngày), đây là một loại lấng phí dễ nhận biết nhất. Lãng phí khi chờ đợi gây cản trở dòng chảy, một trong những nguyên tắc chủ yếu của sản xuất tinh gon, và nó cũng là một trong những loại lãng phí nghiêm trọng trong số 7 lãng phí hay 7 muda (Muda trong tiếng Nhật có nghĩa là lãng phí) trong sản xuất tinh gon.5 Lãng phí khi sản suất thừa: Sản xuất thừa những gì khách hàng không muốn là một loại lãng phí.
Một trong những loại nghiêm trọng nhất trong số 7 lãng phí; lãng phí khi sản xuất thừa là làm ra quá nhiều hoặc quá sớm. Diéu này luôn có nguyên nhân từ việc các lô hàng quá khó, thời gian làm việc quá dài, quan hệ với nhà cung cấp tôi và hàng loạt các lý do khác. Sản xuất thừa dẫn đến việc tồn kho lớn là nguyên nhân gây ra nhiều van dé trong tổ chức của bạn. Mục tiêu là chỉ nên làm những gì được yêu cầu và khi được yêu câu bởi khách hàng, cần lưu ý triết lý “Dung thời điểm” (Just in Time (JIT)), tuy nhiên nhiều công ty lại luôn làm việc theo nguyên tắc “Đúng tình hình” (Just in Case).6 Lãng phí liên quan đến vận hành: Lam hơn những gi khách hàng muốn sẽ khiến bạn tốn thêm chi phí.
Lãng phí khi thừa quy trình xảy ra ở những nơi mà chúng ta dùng các kỹ thuật không phù hợp, thiết bị quá khổ, làm việc quá căng. thực hiện các qui trình mà khách hàng không yêu cau và rất nhiều van đề khác. Tat cả những điều này sẽ khiến chúng ta mat thời gian và tài chính. Một trong những ví dụ lớn nhất về quy trình thừa trong hầu hết các công ty đó là “máy móc khủng” thì có thể vận hành nhanh hơn máy móc khác, nhưng mọi dòng chảy của quá trình đều phải đi theo một lộ trình qua nó gây ra những rắc rồi định sẵn, những trì hoãn và v.
Trong sản xuất tinh gọn; thì nhỏ là tuyệt vời, dùng những máy móc nhỏ vừa phải ở những nơi cân thiết trong dòng chảy, không phá vỡ dòng chảy để tạo ra lộ trình từ những thứ ky quái khá dat tiền mà các kế toán luôn muốn chúng phải bận rộn.7 Lãng phí do hàng lỗi: Hàng lỗi an chứa nhiều van dé và những lãng phí khác nhau. Một trong những loại lãng phí rõ ràng nhất trong số 7 lãng phí đó là hàng lỗi, cho dù chúng luôn được phát hiện dễ nhất trước khi đến tay khách hàng. Lỗi chất lượng là nguyên nhân của hàng lỗi khiến bạn mất nhiêu chi phí hơn bạn mong đợi. Mỗi một hàng lỗi đều cần phải tái chế hoặc thay mới, nó gây lãng phí nguôn lực và nguyên liệu, nó phát sinh thêm các công việc giây tờ, 10 và có thé dẫn đến mat khách hàng.
Lãng phí do hàng lỗi cần được phòng ngừa ở bat ky noi nào có thé, và tốt nhất là nên phòng ngừa hơn là cố gang phát hiện ra chúng, thực hiện các hệ thống poka-yoke (đây là một thuật ngữ của người Nhật để chỉ việc “phát hiện ra lỗi” — poka-yoke là một kỹ thuật trong sản xuất tinh gọn giúp cho người vận hành thiết bị tránh được lỗi) và kỹ thuật tự động hóa có sự điều chỉnh của con người (autonomation — một thuật ngữ trong hệ thống sản xuất của Toyota và sản xuất tinh gọn) có thé giúp ngăn ngừa hàng lỗi trong quá trình sản xuất, giảm việc sản xuất thừa và tập trung vào việc nam bat các van dé, đồng thời đảm bảo cho việc chúng sẽ không tái diễn. Ngoài 7 loại lãng phí nói trên thì ngày nay người ta còn quan tâm tới kha năng cua con người và việc không tận dụng hết khả năng của con người cũng được xem là một loại lãng phí: không sử dụng hết trí óc, các kỹ năng sáng tạo và kinh nghiệm của nhân lực. Làm thế nào đề phát hiện lãng phí: Trong quá trình sản xuất đôi khi chúng ta không thé phát hiện ra lãng phí đang tồn tại dù chúng ta làm rất chăm chỉ, nỗ lực thực hiện cải tiến nhưng lại không thu được kết qua gì.