Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Trần Thị Hà Giang với đề tài "Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay" tập trung nghiên cứu sự tác động của một hình thái tín ngưỡng dân gian truyền thống đến đời sống tinh thần của cư dân khu vực nông thôn, ven đô trong bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là một giá trị văn hóa tâm linh bám rễ sâu sắc trong tiềm thức của người Việt, đặc biệt tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Tín ngưỡng này giữ vai trò là sự phóng to của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong phạm vi làng xã và là sự thu nhỏ của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở quy mô quốc gia, tạo thành sợi dây kết nối lòng biết ơn giữa các thế hệ. Tại khu vực ngoại thành Hà Nội, sự tác động của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng diễn ra theo hai chiều hướng:

  • Mặt tích cực: Thỏa mãn nhu cầu tinh thần, củng cố tính cố kết cộng đồng, bảo tồn các giá trị di sản truyền thống, tiếp biến các yếu tố văn hóa mới, đồng thời giáo dục lòng tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước.
  • Mặt tiêu cực và bất cập: Hoạt động trùng tu, xây dựng lại đình, nghè, miếu tại nhiều địa phương làm biến dạng kiến trúc cổ truyền; phát sinh các hiện tượng thương mại hóa, mê tín dị đoan, gây phức tạp về an ninh trật tự xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận tín ngưỡng Thành hoàng dưới góc độ sử học, dân tộc học, văn hóa học đơn lẻ; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện dưới lăng kính triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về ảnh hưởng hai mặt của tín ngưỡng này đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính từ năm 2008 đến năm 2019.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay, luận án đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng này đến đời sống tinh thần của cư dân địa phương.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay.
    2. Phân tích phương thức, nội dung và thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay cùng những vấn đề đặt ra.
    3. Đề xuất quan điểm và các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu ảnh hưởng của tín ngưỡng đến các lĩnh vực cụ thể của đời sống tinh thần (quan điểm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn hóa nghệ thuật; tín ngưỡng tôn giáo) trên địa bàn 01 thị xã (Sơn Tây) và 17 huyện ngoại thành Hà Nội (Thanh Trì, Đông Anh, Gia Lâm, Ba Vì, Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Thanh Oai, Sóc Sơn, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hoà, Mỹ Đức, Mê Linh).
  • Phạm vi thời gian: Giới hạn từ năm 2008 (thời điểm Hà Nội thực hiện Nghị quyết mở rộng địa giới hành chính) đến năm 2019.
  • Đối tượng khảo sát: Cư dân sinh sống, học tập và làm việc trên địa bàn thị xã Sơn Tây và 17 huyện ngoại thành, bao gồm: cán bộ làm công tác văn hóa, công chức nhà nước; nông dân, người làm nghề tự do; học sinh, sinh viên; người cao tuổi, người hưu trí; các chủ từ, chủ đình, chủ đền và người trông coi hương khói tại các cơ sở thờ tự.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích khối lượng tài liệu phong phú liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

Các hướng nghiên cứu được điểm lại

  1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng:

    • Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục [14] khảo cứu 47 mục thuộc 3 thiên, phân tích các lề thói, phong tục làng xã, nghi lễ thờ cúng Thành hoàng và chỉ ra cả những hủ tục kìm hãm xã hội.
    • Léopold Cadière trong Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo ở người Việt [16] phân tích cội nguồn và sự tôn kính của người dân đối với Thành hoàng làng qua nhiều thế hệ.
    • Hoàng Hồng Cẩm trong Bà Chúa Kho Thành hoàng làng Giảng Võ [15] giới thiệu việc tôn thờ nhân vật lịch sử làm Thành hoàng làng.
    • Lại Văn Toàn, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Như Diệm trong Thần tích thần sắc Hà Nam [137] cung cấp nguồn tư liệu về các vị thần bảo hộ, anh hùng chống giặc và tổ nghề.
    • Trần Huy Đĩnh và các cộng sự trong Sự tích Thành hoàng làng ở Phú Xuyên [24] ghi chép tư liệu chữ Hán và truyện kể dân gian về Thành hoàng tại địa bàn huyện Phú Xuyên.
    • Nguyễn Duy Hinh với các công trình Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam [39], Thần làng và Thành hoàng [40], Bách khoa thư Hà Nội: Kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội 1010 - 2010 [41] làm rõ khái niệm, nguồn gốc, hình thức biểu hiện và bản chất tiền tôn giáo của tín ngưỡng Thành hoàng.
    • Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh trong Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân [104] phân tích giá trị tâm linh của thần tích và nghi lễ thờ cúng tại đất kinh kỳ.
    • Đỗ Quang Hưng trong Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội [47] cung cấp góc nhìn về không gian tín ngưỡng, tôn giáo của thủ đô.
    • Nguyễn Quang Khải trong Một số nghi lễ, hội thi, trò diễn dân gian và phong tục tập quán có liên quan đến tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Bắc Ninh [54] mô tả các trò diễn và nghi thức liên quan.
    • Vũ Ngọc Khánh trong Tín ngưỡng dân gian [56] phân tích nguồn gốc và sự phát triển của các dạng thức tín ngưỡng bản địa (phồn thực, Tam phủ Tứ phủ, thờ động thực vật, sùng bái con người).
    • Lê Tâm Đắc, Tạ Quốc Khánh trong bài viết "Tính hỗn dung của người Việt thể hiện qua đối tượng thờ trong các ngôi chùa ở Hà Nội" [23] nghiên cứu sự giao thoa giữa các hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo.
    • Nguyễn Đức Lữ trong Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam [75] khảo sát biểu hiện của các loại hình tín ngưỡng dân gian bản địa.
    • Lam Khê, Khánh Minh trong 36 thần tích, huyền tích Thăng Long - Hà Nội [59] đề cập các vị thần trấn giữ tứ trấn và các vị Thành hoàng địa phương.
    • Nguyễn Hữu Minh trong Đời sống văn hoá của cư dân Hà Nội [86]; Minh Thảo, Xuân Mỹ trong Truyền thuyết các vị thần Hà Nội [120]; Nguyễn Minh Ngọc trong Bách thần Hà Nội [94]; Vũ Thanh Sơn trong Những vị thần được thờ ở Hà Nội [115] phân tích công trạng và lai lịch các vị thần.
    • Nguyễn Gia Thiều trong bài viết "Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng Việt Nam" [123]; Ngô Đức Thịnh trong Tín ngưỡng & văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam [125]; Doãn Đoan Trinh trong bài viết "Một dạng Thành hoàng ở Hà Nội" [140]; Nguyễn Tọa trong Hội ba làng Kẻ [136] nghiên cứu sự tích và hội làng tại Đống Đa, Thượng Cát, Đại Cát thuộc huyện Từ Liêm.
  2. Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng:

    • Nguyễn Hữu Hiếu trong Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam Bộ [37] khảo sát sự tồn tại của tín ngưỡng trong không gian văn hóa phương Nam.
    • Đỗ Thị Minh Thuý trong bài viết "Biến động của tín ngưỡng dân gian Thăng Long - Hà Nội và những ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa đô thị hiện nay" [134] khảo sát cụm đình làng xã phía tây và tây nam Thăng Long.
    • Trịnh Cao Tưởng trong Thành hoàng ở Việt Nam và Shinto ở Nhật Bản: Một nghiên cứu so sánh [148] đối sánh hai hình thái tín ngưỡng bản địa.
    • Đinh Khắc Thuân trong bài viết "Thờ cúng Thành hoàng ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm" [129] phân tích kho thần tích, thần sắc gồm 568 cuốn thuộc 95 huyện, phủ, châu của 22 tỉnh phía Bắc.
  3. Nhóm công trình nghiên cứu về quan điểm và giải pháp:

    • Mai Quang Hiện, Mai Diệu Anh trong bài viết "Về vấn đề bảo tồn những giá trị văn hóa và bảo đảm an ninh trật tự trong các lễ hội tôn giáo ở Việt Nam hiện nay" [36].
    • Mircea Eliade trong Bàn về nguồn gốc các tôn giáo [28] và James George Frazer trong Cành vàng (Bách khoa thư về văn hoá nguyên thuỷ) [29] cung cấp các luận cứ lý thuyết về tâm lý tôn giáo và văn hóa nhân loại.
    • Vũ Ngọc Khánh trong Thờ cúng Thành hoàng làng ở đồng bằng Bắc bộ [55]; Hoàng Thị Lan trong Tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần của người dân vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay [64]; Nguyễn Nga Mỹ trong bài viết "Giáo dục và đời sống văn hoá, tinh thần ở vùng ven đô Hà Nội" [91]; Trần Đăng Sinh trong Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” - cơ sở triết học và giá trị trong lịch sử dân tộc [112]; Nguyễn Hữu Thức trong Tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội dân gian Hà Tây [135]; Chu Quang Trứ trong Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam [141].

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả lịch sử, khảo cứu phong tục hoặc đánh giá lễ hội đơn thuần. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống dưới góc độ triết học Mác - Lênin về thực trạng tác động đa chiều của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội giai đoạn sau sáp nhập địa giới (2008 - 2019), từ đó đề xuất hệ giải pháp mang tính khả thi nhằm bảo tồn mặt tích cực và đẩy lùi mặt tiêu cực.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Cơ sở lý luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đời sống tinh thần, văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo.
  • Khái niệm tín ngưỡng: Luận án tiếp cận khái niệm tín ngưỡng theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Từ điển Tôn giáo: là niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí ("cái thiêng") thể hiện qua nghi lễ gắn liền với phong tục, tập quán nhằm mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
  • Phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo: Tôn giáo hoàn chỉnh đòi hỏi phải có đủ giáo chủ, giáo lý, giáo luật và hệ thống tín đồ; trong khi tín ngưỡng dân gian mang tính bản địa, không có hệ thống giáo lý thành văn đồ sộ (chủ yếu là các bài văn tế, bài khấn), không có tổ chức điều hành chặt chẽ và cho phép một người thực hành đồng thời nhiều tín ngưỡng khác nhau.
  • Khái niệm Thành hoàng làng: Là vị thần bảo hộ bản mệnh của cộng đồng làng xã, có quyền năng cai quản họa phúc, duy trì trật tự lề thói làng quê, được nhân dân suy tôn và thường được các triều đại phong kiến ban cấp sắc phong.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp triết học và logic chung: Phương pháp duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp, phương pháp logic kết hợp với lịch sử.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức của sử học, văn hóa học, tôn giáo học, Hà Nội học.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế: Phương pháp điều tra xã hội học, thống kê, khảo cứu điền dã lịch sử và thực tế tại các di tích đình, đền, miếu ở ngoại thành Hà Nội.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác văn hóa, tôn giáo.
  • Nguồn tài liệu Hán Nôm: các bản thần tích, thần phả, ngọc phả, sắc phong lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các di tích địa phương.
  • Số liệu khảo sát thực tế trên địa bàn 01 thị xã và 17 huyện ngoại thành Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm nội dung: nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực trạng và nghiên cứu giải pháp. Tác giả chỉ rõ các kết quả đạt được của giới học thuật: làm sáng tỏ nguồn gốc, nghi thức, vai trò văn hóa của Thành hoàng làng; đồng thời chỉ ra điểm giới hạn: các công trình trước chưa phân tích sâu tác động của tín ngưỡng này dưới góc độ triết học duy vật lịch sử đối với các lĩnh vực cụ thể của đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính.

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay - Một số vấn đề lý luận

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tín ngưỡng Thành hoàng và đời sống tinh thần cư dân ngoại thành:

  1. Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng:
    • Nguồn gốc ngoại lai: Thuật ngữ Thành hoàng xuất hiện từ thời nhà Chu (Trung Quốc) chỉ vị thần bảo vệ thành hào. Du nhập vào Việt Nam từ thời Đường (năm 822, Lý Nguyên Gia phong thần sông Tô Lịch). Khi vào Việt Nam, khái niệm này được Việt hóa để chỉ vị thần bảo trợ làng xã.
    • Nguồn gốc bản địa: Là sự mở rộng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và sự thu nhỏ của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, bắt nguồn từ nền sản xuất nông nghiệp lúa nước và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn".
  2. Bốn vai trò cơ bản của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng:
    • Giữ vị trí quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng làng quê, là biểu tượng bảo hộ lề thói, hương ước của làng.
    • Là "chất keo" tâm linh liên kết cộng đồng dân cư thông qua các sinh hoạt lễ hội.
    • Duy trì, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống (hát quan họ, hát xoan, chầu văn, trò diễn dân gian).
    • Là chỗ dựa tinh thần cho cư dân làng xã trước những biến cố đời sống.
  3. Hệ thống phân loại Thành hoàng làng:
Tiêu chí phân loại Phân nhóm / Thứ hạng Đặc điểm và đối tượng thờ tự tiêu biểu
Nguồn gốc đối tượng Nhiên thần Các hiện tượng tự nhiên được thần thánh hóa: thần sông, thần núi, thần sấm, sét, mây, mưa, gió...
Nhân thần Nhân vật lịch sử có công đánh giặc cứu nước, người khai hoang lập làng, tổ truyền nghề...
Sắc phong triều đình Thượng đẳng thần Thiên thần có tích linh dị (Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn, Quý Minh...) hoặc Nhân thần có công lao hiển hách
Trung đẳng thần Thần được thờ cúng lâu đời, có họ tên không rõ công trạng hoặc có quan tước không rõ họ tên, có linh ứng
Hạ đẳng thần Thần do dân làng thờ phụng không có sự tích rõ ràng, được triều đình chuẩn phong theo nguyện vọng của dân
Tính chất thờ tự Tà thần (yêu thần, đê tiện thần) Thần không có tên trong tự điển, không có sắc phong triều đình (thần bán lợn, thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn...)
  1. Đặc trưng tín ngưỡng tại ngoại thành Hà Nội: Thể hiện rõ xu hướng nhân hóa và lịch sử hóa (tiêu biểu như thần Tản Viên Sơn Thánh từ vị sơn thần trong sử cũ được Nguyễn Bính, Nguyễn Hiền thời Lê soạn thần tích có danh tính cha mẹ rõ ràng; làng Bình Đà ở Thanh Oai thờ Lạc Long Quân ở đền nội và Linh Lang Đại Vương ở đền ngoại).

Chương 3: Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 3 khảo sát thực tế và phân tích thực trạng tác động:

  1. Phương thức ảnh hưởng: Tín ngưỡng tác động thông qua không gian kiến trúc đình, đền, miếu; thông qua hệ thống lễ nghi tế tự thường nhật và lễ hội định kỳ; thông qua sự truyền tải các chuẩn mực ứng xử qua thần tích, hương ước.
  2. Nội dung ảnh hưởng theo hai chiều hướng:
    • Ảnh hưởng tích cực: Thỏa mãn nhu cầu tâm linh, giải tỏa áp lực tâm lý; củng cố tình làng nghĩa xóm; bồi đắp tư tưởng yêu nước, tự hào dân tộc; gìn giữ thuần phong mỹ tục và đạo lý truyền thống.
    • Ảnh hưởng tiêu cực và hạn chế: Hiện tượng lạm dụng trùng tu làm sai lệch kiến trúc di tích; việc thương mại hóa lễ hội, đốt vàng mã tràn lan, mê tín dị đoan, cầu cúng trục lợi; các tệ nạn xã hội và mất an toàn trật tự trong mùa lễ hội.
  3. Nguyên nhân và vấn đề đặt ra: Do tác động của kinh tế thị trường và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng làm xáo trộn cơ cấu cư dân nông thôn; công tác quản lý di tích, lễ hội ở cơ sở còn sơ hở; nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế.

Chương 4: Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay

Chương 4 xác định các định hướng và giải pháp can thiệp:

  1. Hệ quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng gắn liền với kỷ cương pháp luật; kế thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng làng xã kết hợp quản lý nhà nước; gắn bảo tồn tín ngưỡng với phong trào xây dựng nông thôn mới và đời sống văn hóa cơ sở.
  2. Các nhóm giải pháp chủ yếu:
    • Giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về ý nghĩa lịch sử, văn hóa của Thành hoàng, bài trừ mê tín dị đoan.
    • Giải pháp quản lý nhà nước: Hoàn thiện quy chế quản lý lễ hội, siết chặt quy trình thẩm định trùng tu tôn tạo di tích đình, đền, miếu; ngăn chặn hiện tượng thương mại hóa.
    • Giải pháp phát huy nguồn lực cộng đồng: Củng cố ban quản lý di tích cơ sở, phát huy vai trò của các bậc cao niên, thủ từ trong việc giữ gìn nghi thức tế lễ cổ truyền và bảo vệ không gian di sản.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa các quan niệm triết học về tín ngưỡng Thành hoàng làng, làm rõ bản chất của tín ngưỡng này như một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng Bắc Bộ.
  • Phân tích rõ cấu trúc và phương thức tác động của tín ngưỡng Thành hoàng đối với bốn lĩnh vực cấu thành đời sống tinh thần (tư tưởng; đạo đức; văn hóa nghệ thuật; tín ngưỡng tôn giáo) của cư dân trong điều kiện chuyển đổi kinh tế - xã hội.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng tại 01 thị xã và 17 huyện ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn từ khi sáp nhập địa giới hành chính (2008) đến năm 2019.
  • Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng thực tế cho các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương nhằm bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời hạn chế các biểu hiện lệch lạc, mê tín dị đoan tại các vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát từ năm 2008 đến năm 2019 và khu biệt trên địa bàn ngoại thành Hà Nội (01 thị xã và 17 huyện), do đó chưa mở rộng so sánh sâu với đời sống tín ngưỡng của cư dân nội thành hoặc các vùng văn hóa nông thôn khác trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi sự biến đổi trong đời sống tinh thần của cư dân các huyện ngoại thành Hà Nội khi chuyển đổi thành quận đô thị; nghiên cứu so sánh sự tiếp biến của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng giữa đồng bằng sông Hồng và các vùng miền khác trong tiến trình chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên các khối ngành khoa học xã hội và nhân văn (Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hà Nội học).
  • Đối với công tác quản lý thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tế cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý văn hóa thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây và 17 huyện ngoại thành trong việc xây dựng quy chế quản lý di tích, tổ chức lễ hội và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Việt Nam có nguồn gốc từ đâu? Theo luận án, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng tại Việt Nam có sự kết hợp giữa hai nguồn gốc: nguồn gốc ngoại lai (tiếp thu thuật ngữ và nghi thức từ Trung Quốc từ thời Đường, năm 822) và nguồn gốc bản địa (bắt nguồn từ văn hóa nông nghiệp lúa nước, là sự phát triển mở rộng của tục thờ cúng tổ tiên và sự thu nhỏ của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương).

2. Thành hoàng làng được phân cấp thành những loại thần nào theo sắc phong triều đình? Theo sự công nhận của triều đình phong kiến, các vị thần được chia thành hai nhóm lớn: Phúc thần và Tà thần. Trong đó, Phúc thần gồm 3 hạng: Thượng đẳng thần (thiên thần linh dị và nhân thần có công lao hiển hách), Trung đẳng thần (thần thờ lâu năm có họ tên hoặc quan tước, có linh ứng) và Hạ đẳng thần (thần do dân làng thờ phụng được chuẩn phong theo lòng dân).

3. Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào? Luận án nghiên cứu trên phạm vi không gian gồm 01 thị xã (Sơn Tây) và 17 huyện ngoại thành Hà Nội (Thanh Trì, Đông Anh, Gia Lâm, Ba Vì, Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Thanh Oai, Sóc Sơn, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hoà, Mỹ Đức, Mê Linh). Phạm vi thời gian nghiên cứu tính từ khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính năm 2008 đến năm 2019.

4. Luận án chỉ ra những biểu hiện tiêu cực nào trong thực hành tín ngưỡng Thành hoàng hiện nay? Các biểu hiện tiêu cực được luận án chỉ ra gồm: việc trùng tu tôn tạo tùy tiện làm phá vỡ kiến trúc cổ của đình, đền, miếu; thương mại hóa sinh hoạt lễ hội; sự xuất hiện của các hành vi mê tín dị đoan, bói toán, đốt vàng mã quá mức; phát sinh tình trạng mất an ninh trật tự và trục lợi tâm linh tại cơ sở thờ tự.

5. Luận án đề xuất những giải pháp cơ bản nào để quản lý và phát huy giá trị của tín ngưỡng? Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm: nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về bản chất văn hóa tín ngưỡng; hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về lễ hội và thẩm định bảo tồn di tích; phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư và ban quản lý di tích địa phương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hà Giang đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận triết học và thực trạng ảnh hưởng hai mặt của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2019. Công trình đã phân tích bản chất của tín ngưỡng như một thiết chế văn hóa tâm linh gắn kết cộng đồng và bảo tồn bản sắc truyền thống, đồng thời chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biến tướng, thương mại hóa di tích trong bối cảnh đô thị hóa. Hệ thống quan điểm và giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho công tác nghiên cứu lý luận cũng như quản lý văn hóa cơ sở tại thủ đô Hà Nội.