Chương 1 trình bày khá đầy đủ về kết quả của các nghiên cứu liên quan trong nước và trên thế giới liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các bài báo và công trình nghiên cứu được giới thiệu đều đáng tin cậy về mặt khoa học, được đăng tải trên các tạp chí uy tín hoặc được thẩm định về mặt chuyên môn bởi các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đã chứng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 minh được ảnh hưởng của Ủy ban kiểm toán, Hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu công ty đến thời hạn phát hành báo cáo tài chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số hạn chế về mặt phương pháp nghiên cứu, biến nghiên cứu và kết luận trái chiều về một số nhân tố ảnh hưởng.
Có thể thấy rằng các nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa quản trị công ty và tính kịp thời của báo cáo tài chính chủ yếu được thực hiện ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển; tại Việt Nam vấn đề này chưa nhận được sự quan tâm đúng mức khi chưa có nghiên cứu thực nghiệm được công bố; mặc dù cơ chế quản trị công ty đã được được áp dụng vào thực tiễn quản lý của hầu hết các công ty niêm yết tại Việt Nam và tính kịp thời của báo cáo tài chính luôn là “vấn đề nóng” tại Việt Nam. Đây chính là khe hổng nghiên cứu, tạo động lực cho tác giả thực hiện đề tài đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính. Từ đó, bổ sung bằng chứng thực nghiệm ảnh hưởng của các nhân tố tại Việt Nam, làm cơ sở đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện tính kịp thời của công bố thông tin báo cáo tài chính và hiệu quả hoạt động quản trị công ty tại Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết ủy nhiệm Lý thuyết ủy nhiệm có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchian and Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976 (Vo and Nguyen, 2014).
Lí thuyết này dựa trên cơ sở tồn tại của thông tin bất cân xứng và mâu thuẫn lợi ích giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm, khiến phát sinh chi phí ủy nhiệm. Theo lý thuyết ủy nhiệm, khi người sở hữu không sở hữu 100% cổ phần của công ty thì chắc chắn sẽ có mâu thuẫn tiềm tàng giữa những người sở hữu cổ phần và nhà quản trị, làm nảy sinh các vấn đề như sự lạm quyền, thông tin bất cân xứng, v.v… Một trong những biện pháp để giải quyết vấn đề này là cần phải xây dựng hệ thống quản trị công ty tốt (Al-Ajmi, 2008). Lý thuyết ủy nhiệm được vận dụng trong hầu hết các nghiên cứu về chủ đề quản trị công ty (Dao and Hoang, 2012). Trong nghiên cứu về tính kịp thời của báo cáo tài chính, Jaggi and Tsui (1999), Al-Ajmi (2008), vận dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải thích ảnh hưởng cấu trúc sở hữu cổ phần công ty đến tính kịp thời của báo cáo kiểm toán; Sultana et al.
(2014) vận dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về ủy ban kiểm toán gồm: trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, quy mô ban kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính; Abdelsalam and El-Masry (2008) vận dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố sự kiêm nhiệm vị trí chủ tịch hội đồng quản trị công ty và giám đốc điều hành, cấu trúc sở hữu cổ phần lên tính kịp thời công bố thông tin tài chính qua mạng internet, v.2 Lý thuyết các bên liên quan (stakeholders theory) Lý thuyết các bên liên quan được khởi xưởng bởi Freeman (1984). Các bên liên quan phân chia gồm các đối tượng bên ngoài công ty và các đối tượng bên trong công ty. Các bên liên quan bên ngoài bao gồm cổ đông, nhà cung cấp tín dụng, chủ nợ, khách hàng và các cơ quan quản lý. Các bên liên quan bên trong bao gồm ban giám đốc, ban giám sát và nhân viên.
Tất cả các bên liên quan đều tham gia vào quá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 trình điều hành và giám sát thành quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng mức độ ảnh hưởng và mục tiêu của các bên liên quan khác nhau là khác nhau (Dao and Hoang, 2012). Al-Ajmi (2008) trích dẫn lập luận của Watts and Zimmerman (1990), lý thuyết các bên liên quan cho rằng, trong trường hợp không có một cơ hội để che giấu thông tin xấu vì các yêu cầu bắt buộc về công bố thông tin thì yêu cầu công bố thông tin bắt buộc thì các nhà quản lý có động lực để trì hoãn phát hành. Khi đó, các nhà quản lý cung cấp cho các nhà đầu tư một "tín hiệu im lặng" và tìm cơ hội để bán cổ phần trước khi tin tức xấu đến thị trường 2.3 Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (resource dependence theory) Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên được phát triển bởi Pfeffer and Salancik’s (1978) và là một trong các lý thuyết có ảnh hưởng nhất đến lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược. Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên có nhiều nét tương đồng với lý thuyết ủy nhiệm; mặc dù ít phổ biến hơn so với lý thuyết ủy nhiệm trong nghiên cứu về ban quản trị công ty nhưng kết quả thực nghiệm cho thấy lý thuyết này thành công hơn trong việc tìm hiểu về ban quản trị công ty (Hillman et al.
Theo Pfeffer and Salancik’s (1978) thì để hiểu được hành vi của tổ chức, bạn phải hiểu được bối cảnh của của hành vi đó – đó là các hệ sinh thái của tổ chức. Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên được các nhà nghiên cứu vận dụng nhiều trong việc đánh giá ảnh hưởng của thành phần quản trị công ty và thành quả hoạt động của công ty (Vo and Nguyen, 2014). Trong nghiên cứu về tính kịp thời của báo cáo tài chính, Sultana et al (2014) vận dụng lý thuyết phụ thuộc tài nguyên cùng với lý thuyết ủy nhiệm để giải thích ảnh hưởng của để giải thích tác động của các nhân tố thuộc về Ủy ban kiểm soát của công ty. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tổng quan lý thuyết về báo cáo tài chính và tính kịp thời của báo cáo tài chính 2.1 Khái quát về báo cáo tài chính 2.1 Khái niệm báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là sự trình bày có hệ thống về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp.
Các thông tin về tình hình tài chính được trình bày thông qua hệ thống các bảng báo cáo tài chính gồm: báo cáo về tính hình tài chính tại thời điểm cuối kỳ kế toán, báo cáo thu nhập toàn diện trong một thời kỳ, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu trong một thời kỳ, báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong một thời kỳ và bảng thuyết minh báo cáo tài chính (Theo IASB, 2010). Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 về “Trình bày báo cáo tài chính”, Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ và các luồng tiền thông qua hệ thống báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính (VAS 21, đoạn 7). Khác với khuôn mẫu về báo cáo tài chính của Chuẩn mực kế toán quốc tế, thông tin về thay đổi vốn chủ sở hữu được trình bày chung trong bản thuyết minh báo cáo tài chính.2 Mục đích của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là sản phẩm của công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp, nhằm cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, thành quả kinh doanh và các dòng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin trong việc ra quyết định kinh tế cho người sử dụng (IASB, 2010; BTC, 2003); đồng thời báo cáo tài chính là công cụ báo cáo thành quả quản lý của nhà quản trị về những nguồn lực được ủy thác cho họ (IASB, 2010).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tổng quan về tính kịp thời của báo cáo tài chính Tính kịp thời là một trong những đặc điểm chất lượng thiết yếu của báo cáo tài chính (BCTC), được trình bày rõ trong các quy định kế toán và các nghiên cứu kinh tế đáng tin cậy.1 Khái niệm tính kịp thời của báo cáo tài chính Khuôn mẫu lý thuyết kế toán do IASB ban hành năm 2010 phân loại đặc điểm chất lượng của thông tin kế toán hữu ích bao gồm đặc điểm chất lượng cơ bản (thích hợp, trình bày trung thực) và đặc điểm chất lượng nâng cao (có thể so sánh, có thể kiểm tra, kịp thời và có thể hiểu được). Trong đó, tính kịp thời được định nghĩa là sự có sẵn thông tin cho những người ra quyết định vào thời điểm thông tin có khả năng ảnh hưởng tới quyết định của họ. Theo đó, các thông tin cũ thì ít hữu ích hơn. Tuy nhiên, một số thông tin có thể tiếp tục kịp thời một thời gian dài sau đó kể từ thời điểm kết thúc kỳ báo cáo vì nhiều người cần sử dụng thông tin để xác định và đánh giá xu hướng.
Đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính Thích hợp Trình bày trung thực Giá trị dự Giá trị Đầy đủ Trung Không đoán khẳng định lập sai sót Trọng yếu Có thể so sánh Có thể kiểm tra Kịp thời Có thể hiểu được Sơ đồ 2.1 : Đặc điểm chất lượng BCTC theo khuôn mẫu của IASB (2010) (Nguồn: Vũ Hữu Đức, 2012) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” (BTC, 2003), tính kịp thời báo cáo tài chính được quy định như sau: “các thông tin kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ”. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về tính kịp thời của báo cáo tài chính nói riêng và chất lượng báo cáo tài chính nói chung đều ghi nhận tính kịp thời là một trong các đặc điểm thiết yếu của báo cáo tài chính.