chương 1 sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sơ lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu này. Trong chương 2, trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm năng lực Theo Huỳnh Thanh Tú (2016), đưa ra khái niệm năng lực là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao; quan điểm của tâm lý học Macxit cho rằng con người sinh ra không có sẵn năng lực đối với một hoạt động nhất định nào đó mà chỉ có tư chất nhất định. Như vậy, năng lực là sự kết hợp những tư chất tự nhiên vốn có của con người thông qua môi trường, hoàn cảnh và tính tích cực hoạt động của mỗi cá nhân để đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả cao. Có thể hiểu theo cách đơn giản: Năng lực là khả năng làm việc của một người trong thực tế. Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng • Đặc điểm Năng lực được hình thành, thể hiện và phát triển trong hoạt động thực tiễn của con người, là kết quả của quá trình giáo dục, tự phấn đấu, rèn luyện của cá nhân.
Tư chất là tiền đề tự nhiên của năng lực, là những đặc điểm cơ thể - sinh lý bẩm sinh, trong đó có các đặc điểm của hệ thần kinh, bộ não và gen của con người. Huỳnh Thanh Tú (2016) cho rằng, năng lực của mỗi người không giống nhau, nó được hình thành trong quá trình phát triển của con người, biết được khả năng của người đó, lãnh đạo sẽ giao nhiệm vụ tương xứng để trong một thời gian nhất định như nhau, họ sẽ hoàn thành công việc tốt hơn những người khác. 7 Như vậy, năng lực của mỗi người là khác nhau, người có năng lực cá nhân cao hơn sẽ có khả năng dành nhiều năng lượng hơn để quyết tâm hoàn thành một mục tiêu hay một nhiệm vụ tốt hơn so với người khác khi làm trong cùng một môi trường và cùng một điều kiện như nhau. Năng lực chỉ tồn tại trong mối quan hệ với một hoạt động nhất định, nghĩa là khi nói đến năng lực bao giờ cũng là năng lực về một hoạt động nào đó.
Ví dụ: Năng lực học tập, năng lực cảm thụ âm nhạc, năng lực quản lý, … • Các yếu tố ảnh hưởng Theo tiêu chí đánh giá, năng lực phụ thuộc vào các yếu tố sau: − Kiến thức: Là những hiểu biết chung về tự nhiên, xã hội, những lý thuyết, phương pháp, số liệu… − Kỹ năng: Là mức độ thành thạo trong việc tiến hành một hoạt động cụ thể nào đó. − Kinh nghiệm: Là những bài học tích lũy được từ thực tế cuộc sống. − Các mối quan hệ: Là những quan hệ mang tính chất cá nhân do từng người tự xây dựng cho mình qua thời gian. − Sự mong muốn (động cơ, hoài bão): Mỗi cá nhân thường có mong muốn hay ước mơ làm việc trong một lĩnh vực nào đó.
− Quan niệm về trách nhiệm xã hội: Là những quan niệm về mục tiêu, lý tưởng sống, đạo đức. − Các đặc điểm cá nhân: Do bẩm sinh hoặc chủ yếu do học tập, rèn luyện mà có. Năng lực tâm lý 2. Khái niệm năng lực tâm lý Khi nói đến tâm lý, người ta nghĩ đến ngay lĩnh vực liên quan đến sức khỏe của con người, là lĩnh vực của y học hay môi trường đào tạo chuyên ngành y khoa, mà ít khi nghĩ rằng tâm lý cũng có sự liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực quản lý hay giáo dục các chuyên ngành khác ngoài chuyên ngành đào 8 tao y khoa.
Xóa bỏ quan niệm vốn tồn tại lâu đời, cuối thế kỷ XX ngành tâm lý học mở ra theo hướng mới: Tâm lý tích cực. Theo đó, một trong hai lĩnh vực nghiên cứu về tâm lý học tích cực của Martin Seligman, cựu Chủ tịch của Hiệp hội tâm lý Mỹ (American Psychological Association) và lý thuyết hành vi tổ chức tích cực (Positive organizational behavior- POB) đã chỉ ra các thành phần của tâm lý bao gồm: Tự tin, lạc quan, hy vọng, thích nghi, trí tuệ cảm xúc và giữa chúng có sự đo lường khác nhau dẫn đến mức độ ảnh hưởng cũng khác nhau, nếu có sự kết hợp giữa các thành phần này lại được gọi là năng lực tâm lý. Theo Luthans và cộng sự (2007), năng lực tâm lý là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân và được đặc trưng bởi 4 yếu tố: Sự tự tin, sự lạc quan, sự hy vọng và khả năng tự hồi phục; là một trong những khái niệm hiện đại đã xảy ra trong lĩnh vực quản lý kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực hành vi tổ chức, đôi khi nó được gọi là hành vi tổ chức tích cực (POB). Năng lực tâm lý cá nhân và các yếu tố của năng lực tâm lý cá nhân Theo các nghiên cứu trước đây, năng lực tâm lý cá nhân hay đặc điểm cá nhân do bẩm sinh mà có như sự nhạy bén, trí thông minh… Nhưng những đặc điểm bẩm sinh như vậy không nhiều, thường phải qua quá trình rèn luyện mới phát triển được và phần lớn các đặc điểm cá nhân chủ yếu do học tập, rèn luyện mà có.
Những đặc điểm ấy thường là: Tự tin, quyết đoán, sẵn sàng chịu trách nhiệm, thích ứng với môi trường, khả năng chịu đựng cao, có tinh thần hợp tác… Luthans và Youssef (2004) cho rằng, trong số các nguồn lực khác nhau, năng lực tâm lý đề cập đến một trạng thái tâm lý tích cực, được coi là vốn nhân lực, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau của người lao động, bao gồm: Cảm xúc, động lực, nhận thức và hành vi. Luthans và cộng sự (2008) phát biểu, năng lực tâm lý có vai trò trung gian, là một đầu vào tích cực về mặt chất lượng thông qua việc đạt được kết quả tích cực trong công việc. Nói chung, nhân viên có năng lực tâm lý cao, trạng thái cảm xúc tích cực thì bất cứ khi nào gặp khó khăn trong công việc, họ luôn hy vọng và lạc quan. 9 Như vậy, năng lực tâm lý có thể được xem như một tài nguyên cá nhân quan trọng, giúp con người đạt được các mục tiêu, có thể đối phó tốt hơn với những trở ngại mà họ phải đối mặt, Luthans và cộng sự (2007) định nghĩa về trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân được đặc trưng bởi 4 yếu tố: (1) Sự tự tin: Là sự cố gắng bằng những nỗ lực cần thiết để đạt được sự thành công.
(2) Sự hy vọng: Là sự kiên định đi tới mục tiêu của mình và khi cần thiết có thể thay đổi cách thức thực hiện và cả hướng đi để đi đến đích. (3) Sự lạc quan: Là tạo ra những suy nghĩ tích cực về sự thành công sẽ đến trong hiện tại và tương lai. (4) Khả năng tự hồi phục/vượt khó: Là khả năng chống đỡ, giữ vững phục hồi khi gặp phải những trở ngại và khó khăn. Kết quả học tập Kết quả học tập được xem như thước đo cho cả quá trình học tập của người học, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng học tập và giảng dạy tại các cơ sở giáo dục.
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007), việc đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, xử lý thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân sinh viên để giúp họ học tập tiến bộ hơn. Việc đánh giá kết quả học tập có thể được đo lường thông qua việc sinh viên tự đánh giá về quá trình học tập, kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập và cơ hội tìm kiếm việc làm của mình. Nội dung đánh giá là những kết quả học tập hàng ngày, cũng như những kết quả phản ánh trong kiểm tra giữa kỳ, các kỳ thi học kỳ và kết quả của việc đánh giá được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo thang điểm đã được quy định. Sự thành công của sinh viên dựa trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ trong quá trình học tâp và được thể hiện theo hai nghĩa trong khoa học cũng như trong thực tế: (1) là mức độ mà người học đạt được so với mục tiêu đã xác định, (2) mức độ mà 10 người học đạt được so sánh với những người cùng học khác như thế nào trong quá trình học tập và rèn luyện được gọi là kết quả học tập.
Đối với mỗi cá nhân dù là học sinh, sinh viên hay người đã trưởng thành và đi làm thì mục đích của họ luôn muốn đạt được mục tiêu đề ra, kết quả gặt hái được chính là thước đo cho quá trình lao động của mỗi cá nhân. Một sinh viên có kết quả học tập tốt, ra trường với một tấm bằng loại ưu được xem như một tài sản tri thức quan trọng của hành trang trong tương lai. Đồng thời, kết quả học tập của sinh viên, chất lượng của sinh viên khi ra trường được xem như một thước đo về chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục, là chìa khóa thành công, lợi thế cạnh tranh trong cuộc chạy đua khẳng định thương hiệu của các cơ sở giáo dục. Chính vì vậy, trong quá trình học tập của mình, mỗi sinh viên luôn không ngừng cố gắng để đạt được kết quả học tập cao nhất, họ kỳ vọng thu nhận được những kiến thức cần thiết nhất phục vụ cho quá trình làm việc trong tương lai; còn cơ sở giáo dục thì không ngừng áp dụng các biện pháp giáo dục tiên tiến để nâng cao chất lượng đào tạo, cung cấp cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng tốt nhất, cung cấp ngày càng nhiều nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, góp phần khẳng định thương hiệu của chính mình.
Tổng quan các lý thuyết về nghiên cứu 2. Các nghiên cứu nước ngoài 2. Nghiên cứu của Durrah và cộng sự (2016) Durrah và cộng sự (2016) thực hiện khảo sát 110 giảng viên của Đại học Philadelphia nhằm xác định nhận thức của các giảng viên về năng lực tâm lý, từ đó đo lường mức độ thực hiện công việc, sự tác động và vai trò của năng lực tâm lý đối với hiệu suất công việc.