Sự ảnh hưởng của Đòn bẩy tài chính đến việc làm đẹp Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012 i SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN VIỆC LÀM ĐẸP BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2013 Tóm tắt Bài nghiên cứu tìm hiểu về mức độ làm đẹp báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, nguyên nhân cũng như những động cơ thúc đẩy các nhà quản lý thực hiện những thủ thuật trên những con số kế toán. Theo đó, trọng tâm của bài sẽ phân tích thực tiễn của việc làm đẹp báo cáo như một hàm số bao gồm các biến là những yếu tố bên trong của công ty như hiệu quả hoạt động, loại hình hoạt động và yếu tố bên ngoài như vấn đề kiểm soát bởi các công ty kiểm toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ ngược chiều rõ rệt giữa LEV và REM hát hiện này nói lên rằng những công ty có mức vay nợ càng cao thì có mức REM càng thấp.Điều này ủng hộ cho quan điểm đòn bẩy tài chính có tác dụng làm hạn chế các hoạt động REM, kết qủa này phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng doanh thuvà lợi nhuận của mỗi công ty được thể hiện trên báo cáo tài chính. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô công ty và REM, điều này chứng tỏ những công ty có quy mô càng lớn thì có độ biến động trong hoạt động càng thấp, vì thế mà việc làm đẹp báo cáo tài chính sẽ có xu hướng ít hơn.
Đặc biệt, kết quả nghiên cứu cũng làm nổi bật hai luồng ý kiến đánh giá về mối quan hệ giữa ROA và REM, kết quả chỉ ra rằng những công ty có quy mô lớn sẽ có khả năng thực hiện REM thấp hơn hoặc cao hơn những công ty có quy mô nhỏ, điều này xảy ra một phần nào đó phụ thuộc vào đường lối chính sách của bộ máy quản trị trong mỗi công ty trong từng giai đoạn kinh tế. ii Mục lục: 1.1 Lý do chọn đề tài .2 Vấn đề nghiên cứu.3 Mục tiêu nghiên cứu.4 Phương pháp nghiên cứu .5 Phạm vi và đối tượng .6 Nội dung nghiên cứu .1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây .1 Vì sao các công ty lại phù phép báo cáo tài chính .2 Việc lựa chọn giữa hai phương pháp AEM và REM.3 Thủ thuật làm đẹp báo cáo tài chính bằng các giao dịch thực (REM ) .4 Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên REM .2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm đẹp báo cáo tài chính .1 Chi phí lãi ròng (INTEXP) .2 Lợi nhuận ròng trên tài sản ( ROA) .3 Quy mô doanh nghiệp (SIZE) .4 Công ty kiểm toán. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu .1 Biến phụ thuộc .2 Biến giải thích.2 Phương pháp luận .1 Ba mô hình đại diện cho REM .2 Mô hình ước lượng. Kết quả nghiên cứu.1 Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình hồi quy đối với ba mô hình đại diện .2 Kiểm tra và khắc phục hiện tượng “ Đa cộng tuyến” .3 Kết quả nghiên cứu của mô hình ước lượng .1 Kết quả phân tích mô tả .2 Kết quả nghiên cứu với biến đại diện RES_CFO .3 Kết quả nghiên cứu với biến đại diện RES_PROD .4 Kết quả nghiên cứu của biến đại diện RES_DISXEPT .5 Kết quả tổng hợp từ ba mô hình.
32 Phục lục Tài liệu tham khảo iv Bảng 1: Tóm tắt ý nghĩa của các biến trong mô hình ước lượng. 17 Bảng 2: : Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình RES_ CFO. 19 Bảng 3: Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình RES_PROD. 21 Bảng 4: : Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình RES_DISXEPT.
22 Bảng 5: Bảng mô tả “Đa cộng tuyến” đối với mô hình RES_CFO. 23 Bảng 6: Bảng mô tả “Đa cộng tuyến” đối với mô hình RES_PRO. 23 Bảng 7: Bảng mô tả “Đa cộng tuyến” đối với mô hình RES_DISXEPT. 24 Bảng 8: Thống kê mô tả.
25 Bảng 9: Kết quả hồi quy của mô hình ước lượng đối với biến đại diện RES_CFO. 26 Bảng 10: Kết quả hồi quy của mô hình ước lượng đối với biến đại diện RES_PROD. 28 Bảng 11: Kết quả hồi quy của mô hình ước lượng đối với biến đại diện RES_DISEXPT .1 Lý do chọn đề tài Khởi đầu năm 2014, nền kinh tế Việt Nam tuy đã có những dấu hiệu phục hồi về các chỉ số kinh tế vĩ mô, tuy nhiên các chuyên gia đánh giá nhận định rằng đất nước vẫn đang trong giai đoạn khủng hoảng, trì trệ, và tăng trưởng dưới mức tiềm năng, đồng thời nhiều yếu tố mang tính chất nền tảng khác vẫn chưa được giải quyết triệt để. Nền kinh tế khó khăn với hệ lụy theo sau nó là sự sụp đổ của nhiều doanh nghiệp trong nước.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê trong năm 2013 có khoảng 60.700 doanh nghiệp (DN) phải giải thể, ngừng hoạt động, tăng 11,9% so với 2012 và tăng 12,5% so với 2011. Phần lớn những doanh nghiệp này đang trong tình cảnh “khát vốn” để hoạt động kinh doanh thế nhưng hầu hết họ không thể tiếp cận được vốn vay từ ngân hàng. Ngoài những nhân tố khách quan như lãi suất cho vay cao dẫn đến tình trạng trên thì không thể phủ nhận là cũng có những nguyên nhân chủ quan từ chính các doanh nghiệp. Nguyên nhân nằm ở chỗ khi quyết định cho một doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng thường quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, để làm đẹp thủ tục xin vay vốn, không ít doanh nghiệp đã chỉnh sửa báo cáo tài chính theo đúng tiêu chuẩn quy định do ngân hàng đặt ra. Ngoài ra, hiện nay, báo cáo tài chính định kỳ hàng quý, hàng năm là thông tin đầy đủ nhất về doanh nghiệp mà nhà đầu tư có thể tiếp cận một cách chính thức. Báo cáo tài chính có thể xem là bộ mặt của một doanh nghiệp. Việc "làm đẹp" do vậy cũng trở nên cực kỳ cần thiết khi một doanh nghiệp muốn thu hút nhà đầu tư.
Tuy nhiên, không phải lúc nào việc sử dụng những thủ thuật làm đẹp này cũng mang lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp, ngược lại nếu sử dụng không có chiến lược, doanh nghiệp có thể sẽ tự tay đẩy mình vào tình trạng khó khăn, bế tắc, đồng thời chịu sức ép kiểm soát từ các công ty kiểm toán. Thực tế cho thấy, “làm đẹp” báo cáo tài chính bằng các giao dịch thực (REM) đang trở thành lối đi khác an toàn và hiệu quả hơn được các nhà quản lý sử dụng thay thế cho việc thay đổi các ước tính kế toán (AEM) 2 vốn được áp dụng từ trước đến nay. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp thay đổi báo cáo tài chính đang trở thành chủ đề mà các doanh nghiệp đáng quan tâm hiện nay đặc biệt đối với những doanh nghiệp mong muốn duy trì hoạt động kinh doanh bền vững.2 Vấn đề nghiên cứu Bài nghiên cứu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề: - Vì sao các doanh nghiệp lại làm đẹp BCTC? - Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện REM? - Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên REM của các công ty ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 đến 2012 như thế nào? - Giải pháp kiến nghị đưa ra để giảm thiểu việc làm đẹp BCTC ở Việt Nam hiện nay.3 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu cơ bản của bài nghiên cứu là kiểm tra mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và vấn đề làm đẹp báo cáo tài chính bằng các giao dịch thực,ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên chiến lược “ làm đẹp” báo cáo tài chính (EM) như thế nào đối với những doanh nghiệp đang sử dụng nợ. Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình dòng tiền hoạt động kinh doanh, mô hình chi phí sản xuất và mô hình chi phí hữu ích dựa theo nghiên cứu của Roychowdhury 2006, thông qua việc kiểm định kết quả của ba biến đại diện bằng phương pháp Likelihood và sử dụng mô hình hồi quy mảng và chéo cho mỗi trường hợp.
Kết quả cho thấy, rõ ràng việc làm đẹp báo cáo tài chính bị ảnh hưởng bởi vấn đề vay nợ của doanh nghiệp.4 Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định Hausman hoặc Likelihood để lựa chọn mô hình mô hình hiệu ứng cố định (fixed effects model) hoặc mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (random effects model). Kết quả hồi quy của từng mô hình ở trên sẽ được lấy làm đại diện cho REM để tiếp tục thực hiện việc hồi quy trong mô hình ước lượng OLS.5 Phạm vi và đối tượng Mẫu bao gồm 100 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM và Hà Nội, bao gồm 6 nhóm ngành kinh tế trong giai đoạn 2008-2013, trừ các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính ( ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, và công ty chứng khoán và những công ty có bộ dữ liệu không đầy đủ hoặc bị mất dữ liệu).6 Nội dung nghiên cứu Cơ sở lý luận về việc làm đẹp BCTC và ảnh hưởng của LEV đến REM. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện REM đối với các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam 2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2.1 Vì sao các công ty lại phù phép báo cáo tài chính 2.1 Làm đẹp báo cáo tài chính nhằm thu hút các nhà đầu tư Schipper,1989 trong nghiên cứu của mình đã tranh luận rằng (EM) là những hành động can thiệp có mục đích vào tiến trình đưa báo cáo tài chính ra bên ngoài, với mục đích đạt đươc các lợi ích cá nhân. Đồng quan điểm trên, Aini và các cộng sự, 2006, đã tìm thấy các bằng chứng cho thấy các nhà quản lý tham gia các hoạt động EM nhằm cải thiện bức tranh tài chính được xây dựng bởi các báo cáo tài chính để thu hút các nhà giao dịch chứng khoán và xây dựng niềm tin đầu tư.
Tuy nhiên việc làm đẹp báo cáo tài chính cũng gặp phải những ý kiến đánh giá tiêu cực, như theo Yan,2006; Aini và các cộng sự, việc tiến hành EM mang tính cơ hội theo các bút toán dồn tích có thể làm cho các báo cáo tài chính thiếu chính xác và sai lệch. Điều này làm giảm chất lượng của các báo cáo tài chính.