ĐẶT VẤN ĐỀ Đô thị hoá là một xu thế tất yếu, đó là một quá trình phát triển của xã hội mang tính chất toàn cầu và diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới [1]. Quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của cuộc sống, đem đến nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển của các đô thị nói riêng và cả xã hội nói chung. Bên cạnh những thành tựu đạt được, đô thị hoá cũng đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề có liên quan đến tính bền vững cho cuộc sống nhân loại. Đối với các nước đang phát triển, quá trình đô thị hoá diễn ra theo chiều rộng, chủ yếu chạy theo việc mở rộng quy mô và gia tăng số lượng các đô thị… mà ít quan tâm đến chất lượng đô thị cũng như chất lượng môi trường sống trong các đô thị, gây ra những hậu quả không mong muốn [1].
Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển đô thị, hệ thống đô thị quốc gia đang có sự chuyển biến tích cực về lượng và chất. Năm 1990, cả nước có khoảng 500 đô thị, đến năm 2000, con số này lên tới 649. Năm 2018, cả nước có 819 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 19 đô thị loại I, 23 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV và 646 đô thị loại V [7]. Đô thị hoá là một quy luật khách quan diễn ra ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Quá trình đô thị hoá trên địa bàn tỉnh đang diễn ra nhanh chóng. Điều đó làm cho cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn tỉnh có những biến động mạnh, đặc biệt là quá trình chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sang đất phi nông nghiệp cũng như nhiều biến động khác trong quá trình sử dụng đất. Xác định biến động và xu hướng thay đổi sử dụng đất đang là một vấn cấp bách được đặt ra trong tiến trình đô thị hóa ở các vùng mới phát triển [24]. Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh, cho phép đơn giản hóa các công việc để giải quyết những vấn đề phức tạp của kinh tế - xã hội cả nước nói chung và của ngành quản lý đất đai nói riêng.
Cụ thể, đó là khả năng xử lý và phân tích dữ liệu mạnh mẽ của công nghệ GIS đã tạo ra một công cụ hữu hiệu trong nghiên cứu biến động và quản lý tài nguyên đất. Đây là một phương pháp đang được rất nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng, đem lại hiệu quả tốt hơn so với các phương pháp truyền thống, hỗ trợ tốt hơn cho công tác quản lý thông tin về đất đai, tăng độ chính xác của dữ liệu và thông tin liên quan đến đất đai [1-3, 5]. Dưới sự phát triển mạnh mẽ của cả nước, Thuận An là một thị xã thuộc tỉnh Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đi đôi với nó là quá trình đô thị hóa rất nhanh, thị xã Thuận An đã vươn mình trở thành đô thị văn minh hiện đại, là tâm điểm về phát triển công nghiệp - thương mại dịch vụ vùng kinh tế phía Nam của tỉnh. Các khu, cụm 2 công nghiệp, đã được hình thành và phát triển.
Các khu đô thị mới, khu dân cư đô thị, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được tăng cường đầu tư xây dựng đã làm thay đổi diện mạo của thị xã [46]. Quy hoạch xây dựng đã làm được nhiều nhưng chưa thật sự bám sát nhu cầu thực tế, chưa theo kịp tốc độ phát triển, di cư tự do và vấn đề việc làm đang gia tăng sức ép tới chất lượng cuộc sống của dân cư đô thị. Đô thị hóa diễn ra không đồng đều và thiếu kiểm soát gây ra những tác động tiêu cực đến việc quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thị xã Thuận An [61]. Do đó, việc xác định mức độ biến động sử dụng đất cũng như ảnh hưởng của đô thị hóa đến biến động sử dụng đất sẽ giúp cho các cơ quan, ban ngành liên quan có định hướng trong việc lập phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tế ở từng giai đoạn ở địa phương.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU a. Mục tiêu nghiên cứu chung Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến biến động sử dụng đất trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa, góp phần phát triển bền vững đô thị ở vùng nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Làm rõ được thực trạng quá trình đô thị hóa của thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2020.
- Xác định được ảnh hưởng của đô thị hóa đến biến động sử dụng đất ở thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. - Dự báo được biến động sử dụng đất dưới tác động của đô thị hoá đến năm 2030 và đề xuất một số giải pháp đối với lĩnh vực quản lý đất đai trong quá trình đô thị hoá tại Thị xã Thuận An. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3. Ý nghĩa khoa học Đề tài đã luận giải được biến động sử dụng đất, các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và dự báo biến động sử dụng đất trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay bằng các phương pháp, mô hình khoa học và hợp lý.
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về phân tích, đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho chính quyền địa phương các cấp liên quan đến công tác quản lý đất đai và quy hoạch đô thị ở tỉnh Bình Dương nói chung, thị 3 xã Thuận An nói riêng trong việc đưa ra các quyết định và lập chiến lược phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Đã phân tích và luận giải được tốc độ, địa điểm, nguyên nhân chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong bối cảnh đô thị hóa trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. - Vận dụng được phương pháp phân tích thành phần chính (PCA – Principal Component Analysis), phương pháp dự báo biến động sử dụng đất bằng chuỗi Markov và hệ thống thông tin địa lý để giải bài toán mức đô thị hóa và biến động sử dụng đất dưới tác động của đô thị hóa.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm, chức năng và vai trò của đô thị a.
Khái niệm đô thị Trong thực tế, đô thị là một khu vực cư trú của loài người. Đối với mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ, đô thị có thể có quy mô diện tích nhỏ so với toàn vùng nhưng trình độ phát triển của đô thị mạnh về nhiều mặt và có vai trò quan trọng đối với các vùng xung quanh. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Theo Luật Quy hoạch đô thị Việt Nam (2009) [43], đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành và ngoại thành của thành phố, nội thị và ngoại thị của thị xã hoặc thị trấn.
Theo Nghị định số 42 năm 2009 của Chính phủ về phân loại đô thị [16], một đơn vị được gọi là đô thị khi có các tiêu chuẩn cơ bản bao gồm: Thứ nhất, là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước hoặc của một vùng lãnh thổ nhất định. Thứ hai, quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên. Thứ ba, mật độ dân số phải phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn, tối thiểu là 2000 người/km2. Thứ tư, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
Thứ năm, hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật phải đạt các yêu cầu: Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị. Đối với 5 khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng lưới hạ tầng, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đô thị. Thứ sáu, việc xây dựng và phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị đã được duyệt, có các đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của cư dân đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Theo quy định của Chính phủ thì một khu vực muốn trở thành đô thị thì phải đáp ứng được 6 tiêu chuẩn trên.
Tuy nhiên, trong thực tế tại Việt Nam do nhiều vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau trong đó đặc biệt là các vùng ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo đang gặp rất nhiều khó khăn nên Chính phủ đã có quy định riêng đối với các đô thị ở những vùng này.