Chương 1 đã trình bày những vấn đề mà nghiên cứu quan tâm, câu hỏi nghiên cứu cũng được đưa ra và hướng tới mục tiêu cần đạt được. Để đạt được mục tiêu đó, nghiên cứu cần phải dựa vào những nghiên cứu thực nghiệm trước đây để làm cơ sở. Do đó, chương này sẽ đi vào xem xét và tổng hợp lại những nghiên cứu được thực hiện ở các đối tượng và trên từng phạm vi khác nhau. Từ những nghiên cứu thực nghiệm này, dựa vào tình hình thực tế tại Việt Nam, tác giả sẽ lựa chọn các yếu tố phù hợp nhất để đánh giá tác động của chúng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Ngoài ra, để đánh giá tổng quan đối tượng cần nghiên cứu, tác giả cũng sẽ mô tả thực trạng tình hình hoạt động của ngân hàng Việt Nam tính đến cuối năm 2012. Tổng quan về ngành ngân hàng ở Việt Nam Trích dẫn từ báo cáo phân tích ngành ngân hàng của công ty cổ phần chứng khoán Phương Nam (PNS): “Ngân hàng thường được coi là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế từng quốc gia và toàn cầu. Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu được với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán, trong đó thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc điểm hoạt động riêng có của mình, ngành ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Bên cạnh những điểm sáng như lãi suất giảm mạnh, tỷ giá ổn định, thanh khoản của hệ thống được đảm bảo. Năm 2012 có thể xem là một năm khá sóng gió đối với ngành ngân hàng Việt Nam với hàng loạt các vụ bắt bớ, kiện tụng, tăng trưởng tín dụng thấp kỷ lục, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh”. Báo cáo trên cũng đã vẽ lên bức tranh phản ánh toàn cảnh ngành ngân hàng trong năm 2012 như sau: 2. Tăng trưởng tín dụng thấp nhất từ trước đến nay Tín dụng năm 2012 tăng rất thấp, 7 tháng đầu năm tăng trưởng tín dụng của toàn nền kinh tế vẫn gần như bằng 0%, sau 11 tháng tín dụng mới nhích lên được hơn 4%.
Đến ngày 20-12-2012, Ngân hàng nhà nước cho biết tăng trưởng tín dụng đạt 6,45% so với cuối năm 2011 và ước cả năm đạt khoảng 7%. 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Tuy nhiên, ngày 9-1-2013, ngân hàng nhà nước thông báo về kết quả hoạt động ngân hàng năm 2012 và định hướng 2013, điểm bất ngờ là tín dụng đã tăng mạnh vào cuối năm 2012, khiến cả năm tăng trưởng 8,91%. Trong đó, tín dụng VNĐ tăng 11,51%, tín dụng ngoại tệ giảm 1,56% so với cuối năm 2011. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn tăng khoảng 8%, tín dụng xuất khẩu tăng khoảng 14%, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng khoảng 6,15%.
Dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích giảm và chiếm tỷ trọng khoảng 4,4% so tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Tín dụng năm 2012 tăng trưởng ở mức thấp kỷ lục, đây là lần đầu tiên kể từ năm 1992, mức tăng trưởng tín dụng ở một chữ số. Nguyên nhân tín dụng tăng thấp là cầu yếu, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hàng tồn kho cao nên nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn; các tổ chức tín dụng phải kiểm soát chặt chẽ tín dụng nhằm ngăn chặn nợ xấu. Lãi suất huy động giảm liên tiếp 6% trong năm 2012.
Từ mức trần 14%, sau 6 lần điều chỉnh giảm liên tiếp trong năm 2012 còn 8% và lãi suất dài hạn thì theo cơ chế thả nổi. Lãi suất cơ bản giảm 5% so với cuối năm 2011, từ mức trần 14%/năm xuống 9%/năm. Song song việc áp trần lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, ngân hàng nhà nước đã cho thả nổi lãi suất kỳ hạn 12 tháng trở lên. Các mức lãi suất điều hành khác cũng giảm mạnh.
Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm xuống còn 8%/năm, trong khi lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống 10%/năm. Lãi suất cho vay giảm mạnh từ 3 – 8%/năm. Việc điều chỉnh trên được xem là động thái tích cực để hỗ trợ nền kinh tế và doanh nghiệp. Hiên nay, lãi suất cho vay cơ bản đã về quanh mốc 12-15%.
Ngân hàng nhà nước cho biết, năm 2013 sẽ xem xét bỏ trần lãi suất huy động. Theo đó, ngân hàng nhà nước sẽ điều hành các mức lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát; Tiếp tục áp dụng trần lãi suất tiền gửi bằng VNĐ để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, xem xét bỏ trần lãi suất huy động khi thị trường tiền tệ ổn định và thanh khoản của hệ thống tổ chức tín dụng cải thiện vững chắc. Trường hợp lạm phát của năm 2013 được kiểm soát ở mức thấp hơn năm 2012, ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng giảm mặt bằng lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát. (Nguồn trích dẫn: PNS) 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm 2.
Tổng tài sản toàn ngành Dữ liệu từ ngân hàng nhà nước cho biết, tính đến 31/12/2012, tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng tăng trưởng 2,54% so với năm 2011 lên đến 5. Như vậy, cả năm 2012 tổng tài sản của hệ thống tăng gần 126. Tuy nhiên, tổng tài sản của toàn hệ thống tăng trưởng phần lớn được đóng góp bởi khối ngân hàng thương mại nhà nước. Năm 2012, tài sản của nhóm này tăng thêm hơn 232.
Ngược lại, tài sản của các ngân hàng thương mại cổ phần bị sụt giảm hơn 102.000 tỷ đồng so với năm 2011. Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Ngân hàng Nông nghiệp (Agribank) và Ngân hàng Công thương (Vietinbank) dẫn đầu về tổng tài sản lần lượt 560.000 tỷ đồng và 503. Trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, Techcombank dẫn đầu với tài sản 179. Tình hình nợ xấu Cập nhật mới nhất từ ngân hàng nhà nước về nợ xấu cho thấy, tính đến cuối tháng 2/2013, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng đã giảm từ 8,82% của 9/2012 xuống còn 6%.
Như vậy chỉ trong 5 tháng, ngành ngân hàng Việt Nam xử lý được 53.685 tỷ đồng nợ xấu. Ước tính nợ xấu hiện nay của các tổ chức tín dụng vào khoảng 156. Điều đáng lưu ý là những con số công bố của các tổ chức tín dụng và giám sát của ngân hàng nhà nước có sự khác biệt rất lớn. Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng vào cuối năm 2012, nợ xấu khoảng 135.000 tỷ đồng, tương đương 4,86% tổng dư nợ và tăng 67,25% so với năm 2011.
Trong đó, 7 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán, ngoại trừ Navibank, có tổng nợ xấu lên đến 22. Xử lý nợ xấu đang là một yêu cầu đặt ra không chỉ với bản thân các tổ chức tín dụng mà còn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Nợ xấu lớn như hiện nay cũng đã làm ách tắc dòng chu chuyển vốn trong nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực không chỉ với các tổ chức tín dụng mà còn cả các doanh nghiệp. Do bị đọng vốn trong nợ xấu, các tổ chức tín dụng không có điều kiện mở rộng tăng trưởng tín dụng, khiến cho hoạt động sản xuất của nền kinh tế gặp khó khăn.
7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Xử lý được nợ xấu sẽ góp phần hạ mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng lành mạnh và góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng bền vững. Mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng Trong những năm qua, thị trường tài chính ngày càng trở nên sôi động hơn do sự tham gia của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Hiện nay, số lượng ngân hàng được phép hoạt động ngày càng tăng cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của nhiều tổ chức phi ngân hàng, trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế là có hạn. Vì vậy, mức độ cạnh tranh ở ngành này khá khốc liệt, ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của ngân hàng nhất là trong bối cảnh nên kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay.
Số lượng Ngân hàng thương mại ở Việt Nam qua các năm Năm 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2005 2006 2007 2008 2009 2012 NH TMQD 4 4 4 5 4 5 5 5 5 4 3 5 NH TMCP 4 41 48 51 48 39 37 34 35 39 40 34 Nguồn: sbv. Lợi nhuận toàn hệ thống ngân hàng giảm mạnh Ngân hàng nhà nước cho biết, tổng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng năm 2012 là 28.600 tỷ đồng, sụt giảm gần 50% so với năm 2011. Tình hình lợi nhuận ảm đạm trong 2012 đã chấm dứt những năm tháng hoàng kim lãi khủng của các ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng đều bị sụt giảm lợi nhuận rất mạnh, ngay cả những ngân hàng lớn như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, cũng không tăng trưởng đáng kể so với năm trước, dù vẫn đứng đầu toàn ngành về lợi nhuận.
Ba nguyên nhân chính dẫn đến lợi nhuận giảm trong năm 2012: do tăng trưởng tín dụng trong năm 2012 khá thấp, lãi suất cho vay hạ nhiệt, chi phí dự phòng rủi ro tăng mạnh do nợ xấu gia tăng. (Nguồn trích dẫn: PNS) Về mặt lý thuyết, hiệu quả hoạt động ngân hàng được quyết định bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng. Các yếu tố bên trong được xác định từ các chỉ tiêu 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh. Các yếu tố bên ngoài không liên quan đến việc quản lý ngân hàng, nó phản ánh môi trường kinh tế, luật pháp, có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Do đó, các biến số giải thích của mô hình khi đưa vào nghiên cứu, cũng thường được phân thành 2 dạng yếu tố: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, tuỳ theo mục đích của các nghiên cứu. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng đã được các nhà nghiên cứu thực hiện chéo giữa hệ thống ngân hàng các quốc gia với nhau, hoặc là giữa các ngân hàng trong một quốc gia. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Đo lường bằng ROA, ROE, NIM) 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) ROA được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận sau thuế trên bình quân tổng tài sản.