CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ “Xung đột Nga - Ukraine và ảnh hưởng tới địa - chính trị Châu Âu” 1. Khái niệm và nội hàm 1. Khái niệm về “Địa chính trị” Khái niệm Chính trị vốn được coi là một trong những lĩnh vực trọng yếu, có tầm ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống xã hội. Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte từng khẳng định: “Chính trị của một quốc gia nằm ở trong địa lý của nó”.
Vì Thế, địa chính trị được xem là lĩnh vực thiết yếu, quan trọng đối với đường lối phát triển quốc gia và chính sách quan hệ quốc tế. Để hiểu rõ về khái niệm “địa chính trị”, ta có thể tham khảo một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu. Từ điển bách khoa Le Petit Larousse illustré của Pháp đã định nghĩa: “Địa chính trị nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dữ liệu địa lý với nền chính trị của các quốc gia”. Từ điển bách khoa Britannica cũng nêu lên khái niệm của đỉa chính trị là “sự phân tích những ảnh hưởng của địa lý đến các mối quan hệ quyền lực trong chính trị quốc tế.
Trong việc hoạch định chính sách quốc gia, các nhà lý thuyết địa chính trị đã tìm cách chứng minh tầm quan trọng của những điều đáng chú ý như việc xác lập được đường biên giới quốc gia, quyền tiếp cận các đường biển quan trọng và quyền kiểm soát những khu vực đất liền có tầm quan trọng chiến lược”. Lịch sử phát triển của bộ môn Địa - Chính trị Tư tưởng địa - chính trị xuất hiện trong đời sống xã hội từ rất lâu về trước.Nó gắn liền với việc tìm kiếm lãnh thổ, đảm bảo an ninh quốc phòng và vấn đề đối ngoại của một quốc gia. Một số quan điểm đã trở thành cơ sở quan 9 trọng cho sự ra đời và phát triển của khoa học địa – chính trị ngày nay. Ví dụ như: Alfred Thayer Mahan (1840-1914) nêu tư tưởng trong việc khẳng định tầm quan trọng của quốc gia hải đảo, đại dương.
Karl Haushofer (1869-1946) công nhận quan niệm về “miền đất trái tim” của Halford Mackinder,… Theo đó, địa – chính trị đã trải qua quá trình vận động với nhiều biến đổi, sự phát triển ấy có thể được chia thành năm thời kỳ sau: Vào giai đoạn trước thế kỷ XVII, con người sống phụ thuộc vào thiên nhiên và bản năng. Hoạt động sản xuất chiến tranh gắn thế giới duy tâm với các yếu tố địa lý. Từ thế kỷ XVII đến 1875, đây là thời kỳ phát triển khoa học kỹ thuật, chế tạo vũ khí. Nhờ ưu thế trong khoa học kỹ thuật, tài nguyên, của cải, châu Âu trở thành vùng đất văn minh, với trách nhiệm “khai hoá văn minh” cho các dân tộc khác và mở ra thời kỳ thống trị trên thế giới.
Vào thời kỳ 1875-1945, khoa học kỹ thuật ngày càng có tầm ảnh hưởng trong đời sống và nghiên cứu khoa học. Các quốc gia thôn tính lẫn nhau, khẳng định vị thế, gây ra nhiều mâu thuẫn, xung đột. Trong giai đoạn 1945-1991, địa – chính trị được đón nhận với cái nhìn khách quan hơn vào những năm 60 của thế kỷ XX. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chế độ XHCN và TBCN cạnh tranh, yếu tố tư tưởng, chính trị từ đó có vai trò tác động tới quá trình vận động địa – chính trị.
10 Thời kỳ từ 1991 đến nay, các yếu tố địa lý giảm vai trò, theo đó là sự biến động phức tạp của nội hàm địa – chính trị. Nghiên cứu về địa chính trị ngày nay cần xét nhiều phương diện không gian, thời gian theo yếu tố địa lý của nó. Các xu hướng địa chính trị Xu hướng địa chính trị hợp nhất: Địa chính trị hợp nhất đề cập tới xu hướng địa chính trị muốn thôn tính,sáp nhập hoặc gây ảnh hưởng với các lãnh thổ khác thông qua việc mở rộng lãnh thổ. Đây là xu hướng thể hiện cụ thể trong các chính sách của các nước lớn, cội nguồn của nó nằm trong tư tưởng truyền thống của các cường quốc, cũng là xu hướng chung nhất trong lịch sử địa chính trị thế giới.
Xu hướng địa chính trị phân mảnh: Khác với xu hướng địa chính trị hợp nhất có nguy cơ xung đột cao, một xu hướng đối lập ra đời ở các nước nhỏ. Đó là xu hướng địa chính trị phân mảnh với mục đích gây tan rã các đế quốc và giành độc lập cho các quốc gia – dân tộc quy mô nhỏ. Đây được coi là xu hướng lấy địa chính trị chống lại địa chính trị. Xu hướng địa chính trị văn hoá: Xu hướng này được coi là xu hướng bất ổn, nguy hiểm đối với thế giới sự lợi dụng của những kẻ phát động chiến tranh, khủng bố để chia cắt về mặt địa chính trị.
Xu hướng địa chính trị tài nguyên: Tài nguyên thiên nhiên được coi là định hướng địa chính trị của các nước lớn. Tuy nhiên, đây cũng là nguồn gốc của nhiều cuộc xung đột từ xa xưa, bởi nó liên quan trực tiếp đến sự phát triển và an ninh một quốc gia. Vì vậy, tài nguyên thiên nhiên được vẽ thành một tấm bản đồ với mục đích cung cấp những thông tin về bạo lực hay đưa tới một cái nhìn khách quan cho các nhà hoạch định chính sách phát triển đất nước. 11 Xu hướng địa chính trị biển đảo: Xu hướng địa chính trị biển đảo được bắt nguồn từ lý thuyết về sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan và lý thuyết “miền đất trái tim” của Mackinder.Nó nhấn mạnh vai trò sức mạnh biển - yếu tố được coi là giúp cho quốc gia trở thành cường quốc hùng mạnh.
Đây là vấn đề mang tính quốc tế, bất kỳ quốc gia biển nào muốn xây dựng chính sách địa chính trị biển đảo đúng đắn đều phải tôn trọng luật pháp trong nước và luật biển quốc tế. Những vấn đề thực tiễn 1. Bản chất, nguyên nhân, diễn biến của xung đột Nga - Ukraine 1. Bản chất Vấn đề khủng hoảng Ukraine hiện nay bắt nguồn từ cuộc chính biến xảy vào đầu năm 2014.
Cuộc chính biến này gắn liền với cuộc “cách mạng nhân phẩm” (tháng 2-2014) đã làm Ukraine có sự dịch chuyển xa Nga hơn và hướng tới EU, NATO, Mỹ. Trong lúc đó, Nga đã tranh thủ sáp nhập bán đảo Crimea với căn cứ hải quân chiến lược ở Sevastopol của Hạm đội Biển Đen vào Nga. Đây có thể coi là thắng lợi lớn của Nga trong khu vực cả về mặt chiến lược và chiến thuật trước Ukraine và nhất là trước Mỹ và EU, khiến Ukraine ngày càng suy yếu và bất ổn. Tuy nhiên, về mặt chiến lược, Nga cũng phải chịu một tổn thất lớn, đó là đã mất Ukraine như một đối tác bền vững., kéo dài đến nay đã 8 năm, vẫn chưa chấm dứt và ngày càng trở nên phức tạp.
Đây không chỉ đơn giản là cuộc xung đột giữa lực lượng ly khai với sự hậu thuẫn của Nga và Chính phủ Ukraine ở miền Đông (Donbass) nước này, mà còn là cuộc xung đột giữa các nước lớn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, như Nga, Mỹ, NATO; thậm chí, liên quan tới các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương. 12 Chiến sự giữa Nga và Ukraine năm 2022 có quy mô lớn hơn so với cuộc khủng hoảng năm 2014 và được xem là cuộc xung đột lớn nhất kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xuất phát từ một số lý do: Một là, cục diện chung trên thế giới đã thay đổi, với việc Mỹ theo đuổi các chính sách “Nước Mỹ trên hết”, “Nước Mỹ trở lại”; Trung Quốc thực hiện chiến lược “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, trong khi Nga hiện chưa có một chiến lược mang tính toàn cầu. Hai là, trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai thành công, có hiệu quả nhiều chính sách cả về đối nội và đối ngoại, qua đó ổn định được hệ thống chính trị nội bộ, củng cố vị thế, mở rộng ảnh hưởng quốc tế và gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; tuy nhiên, hiện nay, trong tam giác quan hệ Mỹ - Trung Quốc - Nga, sự phục hồi ảnh hưởng của Nga vẫn chưa thể làm thay đổi cục diện chính trị thế giới.
Ba là, đây là thời khắc hết sức quan trọng, được xem là một trong những thử thách đối với Tổng thống Nga V. Putin, khi chỉ còn chưa đầy hai năm là tới cuộc bầu cử Tổng thống Nga năm 2024, để tiếp tục từng bước khôi phục vị thế đất nước, giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, chuyển từ cường quốc khu vực hướng đến tầm cỡ cường quốc toàn cầu 1. Nguyên nhân Nguyên nhân sâu xa: Sau Chiến tranh lạnh, thế giới - nhất là khu vực châu Âu - Đại Tây Dương - tưởng chừng sẽ có được một nền hòa bình lâu dài và không còn đối đầu, nhưng ngược lại đã nhanh chóng chứng kiến những căng thẳng leo thang trong quan hệ giữa hai cường quốc quân sự hàng đầu thế giới là Mỹ và Nga, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Mối quan hệ cạnh tranh nhiều hơn hợp tác, đôi khi đứng trước bờ vực đối đầu này đã chi phối mạnh mẽ việc tập hợp lực lượng mới, đồng thời tác động không nhỏ đến chiều hướng quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh trên thế giới, nhất là các quốc gia tầm trung và có vị trí địa - chiến lược quan trọng như Ukraine.
13 Bên cạnh đó, quan hệ giữa Nga và NATO cũng lâm vào khủng hoảng. Sau sự kiện Nga sáp nhập bán đảo Crimea (năm 2014) - nơi có quân cảng chiến lược Sevastopol - NATO đã đình chỉ quan hệ “đối tác vì hòa bình” với Nga, coi Nga là mối đe dọa đối với an ninh khu vực châu Âu. NATO cho rằng, Nga “vi phạm luật pháp quốc tế” khi trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ lực lượng ly khai ở Ukraine, sáp nhập lãnh thổ của một nước có chủ quyền vào Nga. NATO tăng cường trợ giúp Ukraine về huấn luyện và cung cấp các trang thiết bị vũ khí hiện đại; đe dọa thắt chặt các biện pháp cấm vận kinh tế ngặt nghèo đối với Nga trong trường hợp Nga tấn công Ukraine; đồng thời, kêu gọi Nga “xuống thang” và triển khai hàng loạt bước đi để ngăn chặn Nga tấn công Ukraine.
Thế nhưng, điều bất ngờ nhất đối với NATO kể từ sau năm 2014 là Nga đã giành quyền chủ động hành động, cũng như ngày càng cảnh giác và quyết đoán hơn trước bất kỳ động thái nào của NATO. Nga coi việc “NATO Đông tiến” là đường lối lâu dài, là thách thức từ trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraine, đào sâu sự mất cân bằng chiến lược Nga - NATO.