chương 1 đã nêu tổng quan về mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, đồng thời nêu phương pháp sẽ sử dụng để thực hiện và phân tích các tác động đến đối tượng nghiên cứu. Trong chương 2, sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết nền tảng về TMQT và Lý thuyết về Học bằng việc xuất khẩu, đồng thời trình bày những nghiên cứu đã áp dụng các lý thuyết đã nêu để tiếp cận và giải quyết vấn đề. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2 tập trung trình bày lý thuyết về Thương mại quốc tế (TMQT) từ những lý thuyết cổ điển đến hiện đại và làm nền tảng cho Lý thuyết về Học bằng việc xuất khẩu (LBE) để phục vụ cho việc phân tích kết quả nghiên cứu. Các lý thuyết TMQT từ cổ điển đến hiện đại sẽ cho chúng ta thấy vai trong của TMQT ỏ nhiều khía cạnh khác nhau đồng thời làm nền tảng Lý thuyết LBE trong việc phân tích những lợi ích và những hạn chế mà xuất khẩu mang lại cho Doanh nghiệp (DN).
Để chứng minh vai trò của những lý thuyết, trong nội dung chương này cũng nêu thêm những nghiên cứu đã thực hiện tại các quốc gia với những nền kinh tế khác nhau đã vận dụng những lý thuyết đã nêu. Các lý thuyết cổ điển về Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế (TMQT) được thể hiện qua nhiều cách thức khác nhau và xuất khẩu là cách phổ biến nhất. Xuất khẩu là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua buôn bán với mục đích là phát triển kinh tế. Trao đổi hàng hóa là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt của từng quốc gia tham gia.
TMQT là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế làm giàu cho đất nước (Krugman và ctg, 2011). TMQT bắt đầu từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của các quốc gia, từ lợi thế riêng biệt khách quan của mỗi quốc gia và từ đó tạo ra các lợi thế riêng biệt về sản xuất và sản phẩm tạo có đặc điểm riêng biệt của nó. TMQT cho phép một quốc gia tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn của khả năng sản xuất trong nước so với một quốc gia có một nền kinh tế khép kín. TMQT tạo điều kiện cho một quốc gia có thể tận dụng các nguồn lực trong nước một cách có hiệu quả nhất, đồng thời khai thác được những tiềm năng, 7 thế mạnh về hàng hóa, công nghệ, vốn, dây chuyền sản xuất hiện đại.
của nước ngoài nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Để có thể tiếp cận và tận dụng được những lợi ích mà TMQT mang lại, các quốc gia phải chủ động thay đổi để thích ứng và có hướng đi phù hợp với sự hội nhập và phân công lao động quốc tế. Chính sự thay đổi của các quốc gia theo từng hoàn cảnh khách quan của mình đã tạo ra rất nhiều hệ tư tưởng từ đó hình hệ thống các lý thuyết được đề ra để hỗ trợ phân tích, giải thích về những tác động và vai trò hoạt động TMQT phù hợp đối với những hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến việc hình thành nhiều học thuyết về TMQT. Như đã nêu ở trên có thể thấy rằng, việc tham gia vào thị trường xuất khẩu xuất phát điểm là những lợi thế sẵn có riêng biệt của từng quốc gia, chính những điểm khác biệt khách quan về tài nguyên, môi trường, khoáng sản… là lợi thế của từng quốc gia.
Dựa trên đặc điểm này, Adam Smith đã đưa ra lý giải của mình vào trong “Lý thuyết về Lợi thế tuyệt đối” để lý giải cho việc thương mại giữa 2 quốc gia với nền tảng là lợi thế của từng quốc gia. Một hàng hóa được coi là có lợi thế tuyệt đối là khi chi phí sản xuất tính theo giờ công lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa đó phải thấp hơn các nước khác. Nội dung của Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối là sự so sánh về chí phí sản xuất của các mặt hàng giữa các quốc gia và các quốc gia tự chọn cho mình mặt hàng mình làm tốt nhất. Việc chọn lựa mặt hàng sản xuất ưu thế hơn là do sự phân công lao động quốc tế với xuất phát điểm đến từ sự chuyên biệt hóa, chuyên biệt sản xuất, các quốc gia có thể đạt được lợi ích cao hơn khi tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có lợi thế tuyệt đối, đồng thời nhập khẩu những hàng hóa mà mình kém hơn.
Smith và những nhà kinh tế học cổ điển theo trường phái của ông đều cho rằng rằng “Tất cả mọi quốc gia đều có lợi ích từ ngoại thương và đã ủng hộ mạnh mẽ tự do kinh doanh, ông cho rằng ngoại thương tự do là nguyên nhân làm cho nguồn tài nguyên của thế giới được sử dụng một cách có hiệu quả nhất và phúc lợi quốc tế nói chung sẽ đạt được ở mức tối đa”. Ngoài ra, Smith cũng cho rằng Chính phủ không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh nói chung, vì điều này sẽ làm mất cân bằng giữa các quốc gia, trong đó có xuất – nhập khẩu. Kết luận của 8 Smith là “Lợi thế tuyệt đối được quyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu và kỹ năng tay nghề mà chỉ nước đó mới có mà thôi”. Lý thuyết của Smith đặt nền tảng cho việc lý giải các quốc gia chấp nhận giao thương với nhau là do lợi ích đến từ 2 phía với xuất phát từ lợi thế riêng biệt của các quốc gia tham gia.
Tuy nhiên, Lý thuyết của ông vấp phải một hạn chế là yếu tố khách quan và không phải quốc gia nào cũng có thể đáp ứng, như vậy nếu các quốc gia không có lợi thế riêng biệt sẽ không thể tham gia được vào thị trường quốc tế. Trên thực tế, các quốc gia không có một chút lợi thế tuyệt đối nào vẫn có thể tham gia vào phân công lao động quốc tế và vẫn tìm kiếm được lợi ích từ nó, vậy nguyên nhân là do đâu? David Ricardo (1987) đã lý giải việc những quốc gia không có lợi thế tuyệt đối vẫn có thể tham gia vào TMQT và thu được nhiều lợi ích bằng “Lý tuyết về Lợi thế so sánh”. Lý thuyết của ông cho rằng các quốc gia đều có thể tìm kiếm được lợi ích dựa vào sự phân công lao động quốc tế, luận điểm của ông cho rằng ngoài sự khác biệt khách quan về điều kiện vật lý, tài nguyên… thì yếu tố mà Smith chưa đề cập đến là chi phí cơ hội, cụ thể là chi phí phải trả để sử dụng cho một mục đích nào đó. Một quốc gia vẫn có thể sản xuất cùng một loại hàng hóa với quốc gia có lợi thế tuyệt đối về điều kiện sản xuất hàng hóa đó dựa trên chi phí và nhân công bỏ ra để sản xuất một sản phẩm và như vậy quốc gia không có điều kiện vẫn có lợi thế so sánh.
Như vậy, Ricardo kết luận rằng “TMQT phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải lợi thế tuyệt đối”. Hai lý thuyết của Smith và Ricardo đã làm nền tảng cho các nhà kinh tế học phát triển các lý thuyết của mình trong một thời gian dài. Theo sự phát triển của nền kinh tế thế giới đã phát sinh ra những vấn đề mà hai lý thuyết trên chưa lý giải được, cụ thể: Lợi thế do đâu mà có? Sự khác nhau về chi phí cơ hội từ đâu mà có?. Với những lý do nêu trên đã làm các nhà Kinh tế học gặp khó khăn một thời gian cho đến khi hai nhà Kinh tế học Thụy Điển là Hecksher và Ohlin đã giải đáp bằng học thuyết của mình là “Lý thuyết về Lợi thế tương đối” (hay còn gọi là Lý thuyết Hecksher-Ohlin, Lý thuyết H-O) với nền tảng phát triển dựa trên lý thuyết của Ricardo.
Lý thuyết H-O lý giải về sự khác nhau của chi phí cơ hội là do sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất 9 đai, khí hậu.) đã khiến cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hóa khác) trong sản xuất những sản phẩm nhất định. Theo Krugman và ctg (2011) đã nêu trong xuất phẩm của mình về Lý thuyết H-O rằng “TMQT là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia đều hướng tới chuyên môn hóa các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Một số quốc gia có lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu một số sản phẩm hàng hóa của mình là do việc sản xuất những sản phẩm hàng hóa đó đã sử dụng được những yếu tố sản xuất mà nước đó được ưu đãi hơn so với nước khác”. Kết luận của Lý thuyết H-O là nguồn gốc của lợi thế so sánh là “Sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất”.
Ngày nay, Lý thuyết H-O đã có những hạn chế nhất định tuy nhiên nó vẫn là nền tảng của TMQT và được nhiều nhà kinh tế học vận dụng làm nền tảng phân tích khoa học, định hướng xuất khẩu của các quốc gia của các nhà kinh tế chiến lược. Các Lý thuyết Tân cổ điển về Thương mại quốc tế Theo các Lý tuyết cổ điển thì việc xuất khẩu là mang lại lợi ích cho các bên tham gia, tuy nhiên cũng có ý kiến ngược lại và “Lý thuyết tăng trưởng nội sinh” đã nêu một khía cạnh khác về xuất khẩu. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh dựa trên lập luận sự về dư thừa nhân tố và công nghệ có thể được tích lũy, các lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho thấy xuất khẩu là nhân tố có tác động thúc đẩy DN đến một quỹ đạo tăng trưởng cao hơn nếu xuất khẩu kích thích sự đào tạo, cải tiến, nghiên cứu, đầu tư và phát triển. Ngược lại, nếu xuất khẩu định hướng lại nguồn lực vào những hoạt động không thúc đẩy học hỏi và các tiến bộ công nghệ, có thể tạo ra những rủi ro cho DN khi tham gia xuất khẩu.