CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DNNVV VÀ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA DNNVV 1. Cơ sở lý luận chung của DNNVV 1. Những vấn đề cơ bản về DNNVV 1. Khái niệm DNNVV Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật của Việt Nam cho rằng khái niệm DNNVV và sau đó khái niệm DN nhỏ vừa và cực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam.
Vấn đề x ác đ ịn h cá c tiêu chí DN vừa, nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua. Định nghĩa về DNNVV, DN nhỏ và cực nhỏ trước hết phải dựa vào quy mô DN. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu., các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau. Theo Wikipedia1, DNNVV là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Theo tiêu chí của nhóm ngân hàng thế giới, DNNVV có thể chia thành 3 loại căn cứ vào số lượng lao động, đó là DN siêu nhỏ nếu có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ nếu từ 10 đến dưới 50 người và DN vừa nếu từ 50 đến dưới 300 người. Tiêu chí phân loại DNNVV : * Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số nước trên thế giới: Trên thế giới, định nghĩa về DNNVV được quy định và được hiểu khác nhau tuỳ theo từng nơi. Các tiêu chí để phân loại DN thường chia thành hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của DN như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp.
1 Wikipedia là bách khoa toàn thư nội dung mở trên internet -5- Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Tuy nhiên sự phân loại DN theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Ở các nước, tiêu chí định lượng để xác định quy mô DN rất đa dạng. Điều này được thể hiện một cách cụ thể dưới bảng 1.1 như sau: Bảng 1.1 Tham khảo về tiêu chí DNNVV ở một số nước TÊN NƯỚC TIÊU CHÍ DNNVV ÚC - Sản xuất : dưới 100 LĐ - DN nhỏ: dưới 100 LĐ MỸ - DN vừa: 101-499 LĐ - Sản xuất: dưới 300 LĐ hoặc dưới 100 triệu Yên NHẬT - Bán lẻ, dịch vụ: dưới 50 LĐ hoặc dưới 10 triệu Yên CHLB ĐỨC - Dưới 500 LĐ - Công nghiệp, xây dựng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 300 LĐ - Khai khoáng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 500 LĐ ĐÀI LOAN - Thương mại, vận tải và dịch vụ khác: dưới 40 triệu NT$ doanh thu, dưới 50 LĐ Nguồn : http://vi.org/wiki/Doanh nghiệp nhỏ và vừa * Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam: Ở Việt Nam việc định nghĩa DNNVV một phần nào đó là dựa vào công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/6/1998, theo đó DNNVV là DN có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - -6- theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn). Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các DN vừa, nhỏ và cực nhỏ. Do vậy, tiếp theo đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001 đưa ra chính thức định nghĩa DN nhỏ và vừa như sau: “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Các DN cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, DN có từ 10 đến 49 nhân công được coi là DN nhỏ. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành một số quy định mới nhằm trợ giúp phát triển DN nhỏ và vừa hỗ trợ DN trên các phương diện như: trợ giúp tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tạo điều kiện cho DN tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công; thông tin và tư vấn; trợ giúp phát triển nguồn lực. Một trong chính sách đó là Nghị định số 56/2009/NĐ-CP (xem Phụ lục 1) ban hành ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về trợ giúp DNNVV được thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp DNNVV. Nghị định 56/2009 lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa tương đối cụ thể về DNNVV phân định theo 3 loại hình: DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
Trong đó, điểm nhấn quan trọng nhất tại điều 3 của Nghị định 56/2009 là: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật” theo đó khu vực DNNVV đến nay không chỉ có DN, mà còn bao gồm có cả loại hình hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể. Tuy nhiên tại Nghị định 56/2009 việc phân loại DNNVV theo tiêu chí “quy mô tổng nguồn vốn” sẽ có khó khăn trong xác định loại hình DN do quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế -7- toán) của DN thường xuyên thay đổi. Tổng nguồn vốn của DN bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, nợ phải trả người bán…, trong khi vốn chủ sở hữu tương đối ổn định thì vốn vay ngân hàng và phải trả người bán lại thường xuyên biến động. Vì vậy tổng nguồn vốn của DN cũng thường xuyên biến động.
Một DN được xếp vào loại DN nhỏ nhưng ngày mai có thể đã trở thành DN vừa và ngược lại. Đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam Từ khi Luật DN có hiệu lực 01/01/2000 cho tới nay, số DN nói chung và DNNVV nói riêng tăng rất nhanh. Việc số lượng các DNNVV ngày một tăng là một tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên bên cạnh đó, chất lượng của DN vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều DN ra đời nhưng có khả năng cạnh tranh rất thấp. Trong bối cảnh VN hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng và tình hình kinh tế thế giới cũng như Việt Nam đang trải qua giai đọan khó khăn, DNNVV Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn dưới áp lực cạnh tranh của các công ty, tập đòan xuyên quốc gia.
Có thể tóm tắt các DNNVV nước ta có một số đặc điểm như sau: Khả năng thích nghi nhanh trong môi trường kinh doanh Đây là sức mạnh tự nhiên của DNNVV, sức mạnh này bao gồm: - Khả năng thoả mãn những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, một khuynh hướng về sức mạnh lao động và trình độ khéo léo trong công việc từ thấp đến vừa và chuyển biến thích nghi nhanh chóng đối với sự thay đổi những yêu cầu và những điều kiện. - Khả năng về chuyển hoá DN để DN càng nhanh chóng biến các công nghệ mới thành cơ hội làm ăn. - Khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế trong nước trước những biến động liên tục của nền kinh tế thế giới. - Khả năng đem lại những dịch vụ sản phẩm mới.
Hạn chế về vốn: DNNVV tại Việt Nam thường khởi đầu với những khả năng có hạn về vốn. -8- Vốn ban đầu để thành lập DNNVV là vốn tự có của cá nhân hay một số cá nhân hoặc tổ chức. Do vố n hạn hẹp nên DNNVV ở nước ta gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và sự tồn tại của DN như không có điều kiện để cải tiến máy móc thiết bị hiện đại, mở rộng sản xuất kinh doanh, duy trì và phát triển thị phần, nâng cao trình độ lao động có tay nghề, nâng cao k i ế n thức về quản lý và công nghệ, các hạ n chế nêu trên cộng với thị trường hạn hẹp là những bất lợi quan trọng đối với DNNVV ở Việt Nam. DNNVV thường khó có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng.
Theo Cục Phát triển DN- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2009 Việt Nam có 453.800 DNNVV, chiếm 97% tổng số DN trên cả nước. Lực lượng đông đảo này đã đóng góp 26% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tạo ra khoảng 49% việc làm trong khu vực phi nông nghiệp ở nông thôn và 26% lực lượng lao động trong cả nước. Tuy nhiên, hầu hết các DNNVV đều gặp khó khăn về nguồn vốn sản xuất - kinh doanh. Về lý thuyết, số lượng DNNVV đông đảo với đặc thù ít vốn chính là đối tượng khách hàng đầy tiềm năng của các ngân hàng.
Bằng chứng là, ước tính có đến 80% lượng vốn cung ứng cho DNNVV là từ kênh ngân hàng, song theo một điều tra mới đây của Cục Phát triển DN - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ có 32,38% DNNVV có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn của các ngân hàng; 35,24% khó tiếp cận và 32,38% không tiếp cận được. Cũng theo báo cáo từ Viện Phát triển DN thuộc VCCI vào cuối năm 2008 cho thấy, có 90,2% DNNVV có nhu cầu vay vốn ngân hàng nhưng chỉ có 10,5% DN thỏa mãn được 100% nhu cầu. Đây là một thực trạng trái chiều khi mà ngày càng nhiều ngân hàng chú trọng việc cho DNNVV vay vốn nhưng các DNNVV vẫn khó tiếp cận được với vốn vay ngân hàng do các hạn chế vốn có của mình Kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu Công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng của sản phẩm, giúp các doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường. Cũng như tình trạng chung về công nghệ thiết bị của các DN Việt Nam hiện nay, trình độ công nghệ, thiết bị -9- của khu vực DNNVV còn ở mức độ lạc hậu so với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Hơn nữa, do khó khăn về vốn và sự nhìn nhận tầm quan trọng của khoa học công nghệ còn hạn chế nên các doanh nghiệp chưa thể tự mình đổi mới công nghệ, thiết bị kỹ thuật tiên tiến.