CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trước khi đi tìm hiểu về DNNVV chúng ta cần nắm được khái niệm về DN trong nền kinh tế thị trường. Theo luật DN năm 2014 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập thep quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Có thể nói DN là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. DN được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình DN có đặc trưng riêng từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Trên thế giới, khái niệm DNNVV đã được đề cập tới từ những năm đầu của thế kỉ XX.
Để đưa ra khái niệm về DNNVV đã có rất nhiều ý kiến khác nhau. Các tiêu chí được sử dụng để xác định DNNVV cũng rất phong phú như: số lao động, vốn đầu tư, doanh thu, năng lực sản xuất…Song hầu hết các quốc gia đều coi trọng tiêu chí về số lao động trong DN. Tại Nhật Bản: DN sản xuất có số lượng lao động dưới 300 người và số vốn đăng kí dưới 100 triệu yên; DN bán buôn có số lao động dưới 100 người và vốn đăng kí là dưới 30 triệu yên; DN bán lẻ và dịch vụ có dưới 50 người và số vốn đăng kí là dưới 10 triệu yên. Tại Hàn Quốc: DN kinh doanh và khai thác có dưới 300 lao động và có số vốn đăng kí dưới 600.000 USD; DN bán buôn có dưới 50 lao động và số vốn dưới 500.000 USD; DN bán lẻ có dưới 50 người và số vốn dưới 250.000 USD thì được coi là DNNVV.
Tại Mỹ: DN có dưới 1000 lao động và có số vốn đăng kí dưới 3 triệu USD. 7 Tại Việt Nam ngày 11/3/2018 chính phủ đã đưa ra nghị định 39/2018/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV. Trong đó chỉ rõ, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) hoặc tổng doanh thu, cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy Tổng Tổng Số lao Tổng Tổng Số lao Tổng Tổng Số lao mô nguồn doanh động nguồn doanh động nguồn doanh động vốn thu vốn thu vốn thu I. Không Không 10 Từ trên Từ 3 tỷ Từ trên Từ trên Từ trên Từ Nông, quá 3 quá 3 người 3 tỷ đồng 10 20 tỷ 50 tỷ trên lâm tỷ tỷ trở đồng đến 50 người đồng đồng 100 nghiệp đồng đồng xuống đến 20 tỷ đến 100 đến đến người và thủy tỷ đồng đồng người 100 tỷ 200 tỷ đến sản đồng đồng 200 người II.
Không Không 10 Từ trên Từ 3 tỷ Từ trên Từ trên Từ trên Từ Công quá 3 quá 3 người 3 tỷ đồng 10 20 tỷ 50 tỷ trên nghiệp tỷ tỷ trở đồng đến 50 người đồng đồng 100 và xây đồng đồng xuống đến 20 tỷ đến 200 đến đến người dựng tỷ đồng đồng người 100 tỷ 200 tỷ đến đồng đồng 200 người III. Không Không 10 Từ trên Từ 10 Từ trên Từ trên Từ trên Từ Thương quá 3 quá 10 người 3 tỷ tỷ 10 50 tỷ 100 tỷ trên mại và tỷ tỷ trở đồng đồng người đồng đổng 50 dịch vụ đồng đồng xuống đến 50 đến đến 50 đến đến người tỷ đồng 100 tỷ người 100 tỷ 300 tỷ đến đồng đồng đồng 100 người (Nguồn: Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) 8 Sự khác nhau về tiêu chí xác định DNNVV của các nước là khách quan và hợp lý, vì mỗi nước có trình độ kinh tế khác nhau cũng như có các chính sách, biện pháp hỗ trợ và định hướng phát triển các DNNVV của mình. Tiêu chí xác định DNNVV ở mỗi nước cũng có thể thay đổi phù hợp với chiến lược phát triển của từng thời kì. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hoạt động sản xuất kinh doanh 1.Những đặc điểm thuận lợi - Về vốn: Do điều kiện để thành lập DNNVV không đòi hỏi cần số vốn lớn nên hầu hết các DNNVV ở Việt Nam có quy mô vốn tự có nhỏ.
So với các doanh nghiệp quy mô lớn, DNNVV thường có hiệu suất sử dụng vốn cao hơn do lĩnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu hướng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội, nhằm vào những sản phẩm có sức mua cao. Ngoài ra, chu kì sản xuất kinh doanh ngắn hạn lại diễn biến theo mùa nên tốc độ quay vòng vốn nhanh từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp. - Về bộ máy tổ chức quản lý của DNNVV: cơ cấu tổ chức thường nhỏ gọn, ít cấp bậc và không bị chồng chéo, vì thế đã đem lại hiệu quả điều hành hết sức linh hoạt và tích cực trong quản trị doanh nghiệp. - DNNVV tồn tại và phát triển ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế và hoạt động trong lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả trong lĩnh vực mà DN lớn không muốn tham gia hoặc không thể vươn tới hết.
DNNVV chiếm tới hơn 90% số DN nước ta, tạo ra một lượng hàng hóa dịch vụ đáp ứng đầy đủ và kịp thời mọi nhu cầu dù là nhỏ nhất của tất cả các tầng lớp xã hội. - Về lao động: DNNVV có quy mô lao động nhỏ, chủ yếu sử dụng lao động đơn giản trình độ tay nghề chưa cao do đó có thể tận dụng nguồn nhân lực dồi dào của nước ta.Những đặc điểm bất lợi - Vốn chủ sở hữu nhỏ DNNVV được thành lập với số vốn ban đầu chủ yếu là của chủ DN tự bỏ ra và vay thêm của gia đình, bạn bè nên nguồn vay này thường không lớn. Đây cũng là một điểm bất lợi trong trường hợp kinh tế suy thoái, khi đó vốn chủ sở hữu là lá chắn hữu hiệu chống lại sự phá sản của doanh nghiệp. - Khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng còn hạn chế.
Do vốn chủ sở hữu nhỏ nên các DN phải tìm cách huy động từ các nguồn khác. Trong đó, vốn vay từ ngân hàng là cách mà hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng. Nhưng hiện nay, nhiều DNNVV đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng. Nguyên nhân từ cả hai phía: các DNNVV không hiểu rõ về cơ chế tín dụng, ngại vay mượn khi thủ tục rườm rà, phương án sản xuất kinh doanh sơ sài….Còn về ngân hàng thì chính sách tín dụng và các thủ tục vay vốn nên đơn giản hơn, các hình thức bảo đảm tín dụng cần đa dạng hơn để thích ứng với đặc điểm của DNNVV.
- Trình đô công nghê, thiết bị lạc hậu. Khả năng tài chính của các DNNVV còn hạn hẹp nên không có đủ nguồn lực đầu tư cho thiết bị hay công nghệ. Đa phần các DNNVV đều sử dụng những công nghệ thiết bị lạc hậu nên chất lượng sản phẩm không cao, giảm tính cạnh tranh trên thị trường. - Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp chưa cao.
Trình độ quản lý DNNVV hiện nay cũng là môt bất cập. Chính điều này cũng một phần hạn chế sự phát triển mang tính bền vững của DN. Hơn nữa đa số các chủ doanh nghiệp ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo kiến thức về kinh tế và quản trị kinh doanh. - Hạn chế về nguồn nhân lực.
10 Với số lượng lao động ít (< 300 người), các DNNVV sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất. Thêm vào đó, do cơ hội phát triển thấp nên một số lượng lao động có tay nghề cao không muốn gắn bó với khu vực này. Bản thân lao động trong các doanh nghiệp cũng ít được đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn do kinh phí hạn hẹp, dẫn đến tay nghề cũng không cao. - Khả năng tiếp cận thị trường kém.
Vì thiếu thông tin, thêm vào đó các DNNVV có công nghệ lạc hậu, nên các doanh nghiệp này chỉ cung cấp các sản phẩm thông dụng, chưa có những sáng tạo để cạnh tranh và kích thích người tiêu dùng. Ít doanh nghiệp có thể đi tiên phong trong lĩnh vực mà doanh nghiệp đang tham gia. Bên cạnh đó việc có quy mô nhỏ nên năng lực sản xuất, khả năng tiếp thị sản phẩm chưa cao, nên các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn để cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa. - DNNVV chịu ảnh hưởng nhanh và mạnh trong nền kinh tế có những biến động xấu.
Được đánh giá là đơn vị hoat động linh hoạt, năng động nhưng với những hạn chế vốn có thì DNNVV là những đơn vị chịu ảnh hưởng đầu tiên khi nền kinh tế có những biến động xấu. Nếu bản thân doanh nghiệp không có những điều chỉnh kịp thời, không có những sự hỗ trợ về vốn, về thị trường từ phía nhà nước và các tổ chức, hiệp hội, các DNNVV sẽ rất dễ rơi vào tình trạng thua lỗ dẫn tới phá sản. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế. DNNVV có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong nền kinh tế của mỗi nước kể cả những nước có trình độ phát triển cao.
Vị trí, vai trò của các DNNVV được thể hiện qua những đặc điểm sau: Thứ nhất, DNNVV góp phần giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội 11 + Vai trò của các DNNVV không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước, quan trọng hơn và có ý nghĩa then chốt là nó tạo ra công ăn việc làm cho người dân lao động. DNNVV là thành phần kinh tế tạo ra một khối lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động mà phần lớn là chưa qua đào tạo, giúp người lao động có điều kiện làm việc, có thu nhập ổn định và có điều kiện để cải thiện cuộc sống. Hiện nay các doanh nghiệp này đang sử dụng trên 50% lao động trong xã hội. Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, các DNNVV đang chiếm khoảng 60% GDP và 70% lực lượng lao động tại những nước có tổng thu nhập quốc dân (GNP) từ 100-500 USD/năm/người, đóng góp 50% GDP và chiếm 65% lực lượng lao động tại các nước thuộc Tổ chức Phát triển kinh tế (OECD).