Chương 1: Giới thiệu về đề tài. Ở chương này, tác giả làm rõ lý do chọn đề tài, mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu, phương pháp, phạm vi nghiên cứu cũng như bố cục luận văn. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này, tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trước trên thế giới có liên quan về mối quan hệ giữa giá trị công ty và mức tiền mặt nắm giữ, cũng như các nhân tố tác động đến mức tiền mặt nắm giữ.
Trên cơ sở những bằng chứng thực nghiệm này, tác giả xây dựng mô hình và thực hiện kiểm định với dữ liệu được thu thập từ các công ty Việt Nam. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Ở chương này, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu, cách thức thu thập và xử lý số liệu cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, ở chương này trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu của tác giả đã phát hiện được.
Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu, các hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Nắm giữ tiền mặt nhằm gia tăng giá trị công ty của các nhà quản trị là một trong những vấn đề được thu hút nhiều từ sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Những năm gần đây trong lĩnh vực nghiên cứu tài chính, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách nắm giữ tiền mặt của công ty bởi một thực tế là các công ty luôn giữ một mức tiền mặt nhất định trong bảng cân đối kế toán của họ, thực tế đó cho thấy tiền mặt là một yếu tố rất quan trọng cần được suy xét.
Nadiri – (1969) là người tiên phong trong nghiên cứu về chủ đề nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp. Bằng cách thu thập dữ liệu từ các công ty sản xuất của Mỹ giai đoạn 1948 – 1964 để ước tính mức độ tiền mặt thực tế mà các công ty muốn nắm giữ, kết quả ông thu được là nhu cầu tiền mặt thực tế được xác định bởi đầu ra, lãi suất, tỉ lệ dự kiến của sự thay đổi mức giá chung và giá cả các yếu tố sản xuất. Trong khi đó, năm 1974, khi nghiên cứu đề tài “Một chính sách tài chính không hợp lý của doanh nghiệp” được đăng trên một tờ báo kinh tế Mỹ năm 1974, Joseph E.Stiglitz đã nói “Khi thị trường là hoàn hảo, các quyết định tài chính sẽ không tác động đến giá trị công ty”. Trong bối cảnh này, việc nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản và các quyết định đầu tư vào tài sản ngắn hạn sẽ không ảnh hưởng đến giá trị tài sản của các cổ đông.
Sau đó một năm, Opler, Pinkowitz, Stulz và Williamson cũng đã đưa ra kết luận tương tự khi nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến giá trị công ty”. Tuy nhiên, trong thực tế, việc nắm giữ tiền mặt không được ủng hộ một cách tuyệt đối. Sự tồn tại của thị trường không hoàn hảo ngụ ý rằng có thể có một mức tiền mặt được nắm giữ tối ưu cân bằng giữa chi phí và lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt để từ đó tối đa hóa giá trị của công ty. Xét về lợi ích, công ty cần tiền mặt để thực hiện các hoạt động bình thường, tận dụng được lợi thế 8 của các cơ hội đầu tư sinh lợi trong tương lai cũng như đáp ứng các sự kiện không lường trước được.
Thêm vào đó, việc nắm giữ tiền mặt cũng là cách nhằm làm giảm sự phụ thuộc của công ty vào nguồn tài trợ bên ngoài nhiều tốn kém. Do sự hiện diện của thông tin bất cân xứng giữa chủ nợ và người đi vay, việc huy động vốn từ thị trường vốn sẽ khó khăn và tốn kém hơn đối với các công ty để có được nguồn tài trợ bên ngoài vì các vấn đề liên quan đến lựa chọn đối nghịch, đặc biệt đối với những công ty có ít mối quan hệ với ngân hàng hay các tổ chức vay vốn lại càng khó khăn gấp bội. Trong tình trạng này, công ty cần thiết lập một hệ thống phân cấp về tài chính và cần có những quyết định chính xác trước khi vay nợ, theo lý thuyết Pecking của Myers và Majluf, 1984. Cũng theo lý thuyết này, chi phí vay nợ có thể tránh được nếu công ty có thể giữ lại đủ tiền mặt trong nội bộ để thực hiện các dự án đầu tư có NPV dương.
Nói cách khác, các nhà quản lý của doanh nghiệp có thể tránh được vấn đề này bằng cách dự trữ tiền mặt cho công ty. Do đó, nắm giữ tiền mặt có thể có lợi vì lúc này công ty có thể tận dụng cơ hội đầu tư, đặc biệt là cho các công ty khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài. Ngoài ra, tính thanh khoản làm giảm khả năng phát sinh chi phí tài chính nếu công ty hoạt động không tạo ra dòng tiền đủ để đáp ứng việc thanh toán các khoản nợ bắt buộc (Faulkender và Wang, 2006). Tuy nhiên, các nghiên cứu trước cũng đã đề cập đến việc nắm giữ tiền mặt cũng có nhiều mặt trái, chẳng hạn như từ việc nắm giữ tiền mặt có thể gây ra các vấn đề đại diện giữa các nhà quản lý và cổ đông khi có sự tồn tại của dòng tiền tự do lớn, điều này tạo ra hành vi tùy ý của các nhà quản lý và từ đó gây hại đến lợi ích của cổ đông (Jensen, 1986).
Liên quan đến vấn đề “Lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt”, năm 1976, Jensen và Meckling đã tiến hành nghiên cứu của mình về đề tài trên. Trong bài, các ông đã làm rõ những lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt. Đầu tiên, để phòng ngừa, nếu công ty duy trì được tính thanh khoản, công ty sẽ có thể linh hoạt hơn trong việc giải quyết các tình huống bất ngờ. Thứ hai, đối với các hoạt động giao dịch, tiền mặt có thể đáp ứng những nhu cầu từ những hoạt động bình thường của công ty như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết 9 đúng hạn, đảm bảo uy tín của doanh nghiệp đối với chủ nợ, hạn chế việc gây gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh và nhiều hậu quả kéo theo như mất thị phần, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp,…Thứ ba, công ty dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện cơ hội đầu tư tốt, bởi sự có mặt của bất cân xứng thông tin có thể gia tăng chi phí tài chính từ bên ngoài (Myers and Majluf, 1984).
Việc duy trì một mức dự trữ tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp cơ hội thu được chiết khấu khi mua hàng, làm tăng hệ số khả năng thanh toán. Hơn thế nữa, sự tồn tại của chi phí đại diện có thể làm gia tăng chi phí để có được nguồn tài trợ bên ngoài, điều này có thể dẫn công ty đến việc bỏ qua đầu tư dự án có NPV dương (Myers, 1984). Vì vậy, các nhà quản lý nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản để giảm chi phí phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài. Nói như thế không có nghĩa là bao giờ có nhiều tiền mặt hơn mức lý thuyết đưa ra cũng tốt.
Việc đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cũng có những bất lợi vì phát sinh nhiều chi phí. Một mức tiền mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể khiến cho nhà đầu tư đặt câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao hơn mức bình thường. Tại sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem đi sử dụng? Nhà đầu tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã mất các cơ hội đầu tư hoặc là ban quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không thể biết làm gì với lượng tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều luôn có chi phí cơ hội, vì tỷ suất sinh lợi thấp, đặc biệt nếu công ty bỏ qua những dự án đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận hơn là việc nắm giữ ở mức tiền mặt này.
Chi phí cơ hội của tiền mặt trong trường hợp này được hiểu là sự khác nhau giữa lãi suất có được khi nắm giữ tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng cũng được xem như là tiền mặt và cái giá phải trả để có tiền mặt. Cái giá phải trả để nắm giữ tiền mặt, đó chính là chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp - WACC. Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp khi đầu tư vào một dự án mới hoặc mở rộng sản xuất có khả năng tạo ra tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là 20%, thì chi phí cơ hội của việc nắm giữ nhiều tiền mặt thật sự là đắt. Bởi lãi suất cho tiền gửi không kỳ hạn khó lòng đạt tới 10%.
Trong trường hợp tỷ suất sinh lợi của dự án thấp hơn mức chi phí sử dụng vốn trung bình WACC thì tiền mặt 10 cũng không nên giữ lại tại doanh nghiệp, mà nên phân phối chúng lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức hay mua lại cổ phần của doanh nghiệp. Mặt khác, dự trữ tiền mặt lớn có thể gia tăng mâu thuẫn giữa nhà quản trị và cổ đông hay nói cách khác, chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong tình huống này. Bằng cách này, nhà quản trị có thể gia tăng dòng tiền tự do một cách tùy ý, điều này mâu thuẫn với lợi ích của cổ đông (Jensen, 1986). Khi muốn gia tăng mức tiền mặt trong doanh nghiệp, các nhà quản lý luôn đưa ra những lời giải thích có vẻ như rất hợp lý: tiền mặt nhiều có thể giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn và thực hiện các phi vụ thâu tóm một cách nhanh chóng hơn.
Thế nhưng đừng quên rằng với các doanh nghiệp có lượng tiền mặt nhiều hơn mức cần thiết mà các lý thuyết đề nghị thì phải chú ý nhiều hơn đến vấn đề đại diện. Các nhà quản trị dễ dàng bị “quyến rũ” bởi sức hút của những toà biệt thự sang trọng. Do vậy, các quản trị cấp cao có thể sẽ thực hiện những vụ thâu tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm tranh thủ tìm kiếm lợi ích cá nhân. Vì rất có thể rằng động cơ bên trong đó chính là việc tư lợi của các nhà quản trị.