CHƯƠNG 1 TÓNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN củu ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC PHÁP ĐÓI VỚI SỤ PHÁT TRIÉN CỦA TRUYỆN NGÁN VIỆT NAM TỪ CUÓI THẾ KỶ 19 ĐẾN 1945 “Việc làm rõ quá trình hình thành, phát triền, chuyển hóa và tan rã cúa các thổ loại phái được coi là một trong những nhiệm vụ lý luận quan trọng nhất của lịch sứ văn học toàn thế giới bởi đây chính là một hình thức giao tiếp giữa con người với con người, giữa con người với lịch sử” (Vương Trí Nhàn, 1986, tr. Do vậy, khi hướng đến tìm hiểu tống quan về ảnh hưởng của vãn học Pháp đối với sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế ký 19 đến 1945, chúng tôi hy vọng SC có được cái nhìn thấu đáo về những tác động cúa văn học Pháp, văn hóa Pháp, rộng hơn là văn học, văn hóa phương Tây đến quá trình hình thành truyện ngắn Việt Nam cũng như sự phát triển của thổ loại này trong tiến trình phát triển của văn học nước nhà. Ngoài ra, đời sống văn học nói riêng, dời sống nghệ thuật nói chung cùa bất kỳ quốc gia nào trên thế giới luôn diễn ra quá trình lựa chọn, biến đổi không ngừng theo hướng phát triển, đối mới. Từ đó, tìm hiểu tồng quan tình hình nghiên cứu ánh hường cua văn học Pháp đối với sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945, chúng tôi muốn hưởng đến minh định một điều: sự du nhập cùa văn học Pháp đã góp phần không nho vào quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam và cũng là một trong sổ nhừng tác nhân thúc đẩy nền vãn học nước nhà nhanh chóng bước vào quỹ dạo hội nhập hóa, toàn cầu hóa của nhân loại.
Ị Định hướng quá trình nghiên cứu những ảnh hưởng của văn học Pháp đoi với sự phát triển cùa truyện ngan Việt Nam từ cuối thế ky 19 đến 1945 Dê quá trình tim hiếu những ảnh hưởng của văn học Pháp đối với sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945 được bao quát, chúng tôi đà kết hợp với một sổ cơ sở lý thuyết của vãn học so sánh và vận dụng góc nhìn tiếp nhận văn học. Chăng hạn, quan niệm của Paul Van Ticghcm (1871- 8 1948) - một trong những người sáng lập trường phái Pháp - về văn học so sánh: “nghiên cứu các tác phâm vãn học cua những nền văn học khác nhau thông qua những quan hệ lẫn nhau giừa chúng”” (Trần Thị Phương Phương, 2019, tr.34) và sự triển khai: “anh hưởng phải là một tác động thực sự, ràng tác gia của tác phẩm có sau đã đọc tác phâm có trước trên nguyên bản.rồi khi sáng tác đã đưa ra nhừng yếu tố của tác phấm đi trước đó hòa nhập vào tác phẩm của mình, điều mà nhà văn học so sánh cần phải làm rõ khi phàn tích. Van Tieghcm cũng thừa nhận cả nhừng anh hướng thông qua trung gian là các băn dịch, hoặc qua các tóm tat, giới thiệu, phê bình cua các người khác trên sách báo - những yếu tố mà ông gọi là “những môi giới văn chương” (les intermédiaires)” (Trần Thị Phương Phương, 2019, tr.ơ góc nhìn tiếp nhận văn học, với sự tập trung vào đoi tượng độc giả, bao gồm cả các nhà vãn, cụ thể là các tác giả truyện ngấn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945 cỏ chịu ảnh hưởng ít hoặc nhiều tù' văn học Pháp, chúng tôi kháo sát vấn đe luận án nghiên cứu dựa trên những lý thuyết cúa Stanley Fish (Mỹ) về “cộng đồng thông diễn” (interpretive communities), Norman N. Holland (Mỹ) với những quan niệm về tâm lý độc giá, lý thuyết tiếp nhận cùa trường phái Konstanz (Dức) với những quan niệm đơn cử như: Wolfgang Iser cho rằng “văn bản văn học có hai cực, một cực nghệ thuật (artistic) là văn bán mà tác giả tạo ra, còn cực thẩm mỹ (aesthetic) là nhận thức mà độc giả có được” (Trần Thị Phương Phương, 2019, tr.55), “tam đón đợi” của Hans Robert Jauss,.
Từ những cơ sớ lý thuyết trên, chúng tôi hướng đến nghiên cứu những anh hương từ vãn học Pháp đến quá trình phát triền của thể loại truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế ký 19 den 1945 dựa trên hai bình diện chính: Ánh hường trực liếp và ảnh hưởng gián tiếp giữa các nền văn học, giữa các tác giả. Trước hết là nhừng ảnh hường trực tiếp giừa các nền văn học, giừa các tác giá. Đây là hình thức ánh hương diễn ra theo kiểu nền văn học của quốc gia này (Pháp) vượt khỏi ranh giới địa lý và những rào cản ngôn ngừ đẽ xuất hiện, tồn tại và tạo nên những thay đồi nhất định trong đời sống văn học của một quốc gia khác (Việt Nam). Ảnh hưởng trực tiếp có thế hiểu là dạng ảnh hướng mang tính “trực quan”, nghĩa là có the dề dàng nhận thấy sự tương đong giữa các tác phâm ờ 9 các tác già khác nhau, ở các nền văn học khác nhau với những hình thức như mô phóng (mô phỏng côt truyện, mô phóng nhân vật, mô phỏng biêu tượng hay chi tiết nghệ thuật.
Trong định hướng nghiên cứu những ảnh hưởng trực tiếp cua văn học Pháp đến quá trình phát triền của thể loại truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945, chúng tôi tập trung phần nhiều vào tiểu sứ tác giả, quá trinh tiếp xúc của tác giả với nền văn hóa, văn học Pháp, vào nhũng tác phẩm được mô phong, phóng tác và những tác phẩm đóng vai trò “văn ban gốc”. Nhừng ảnh hưởng gián tiếp giừa các nền văn học, giữa các tác giả là trường họp giữa một nhà văn cua quổc gia này (Việt Nam) với một nhà văn cùa quốc gia khác (Pháp) không hề có mối liên hệ trực tiếp (do bất đồng ngôn ngừ, do hạn che về khoang cách.) nhưng quan diêm sáng tác hoặc một số tác phàm cụ thể của họ vẫn có yếu tố tương đồng do quá trình tiếp xúc thông qua các yểu tố trung gian như: các văn bản dịch (tiểu sừ tác giả, tác phẩm, báo chí, .), các hình thức nghệ thuật khác (phim anh.), từ một hoặc nhiều cá nhân khác (cá nhân này đã trải qua quá trình chịu ảnh hướng trực tiếp và đà có nhừng biến đổi dáng kể trong hoạt động văn học cua mình),.Có thê xem dây là dạng anh hường “phi trực quan” với sự “nhận biết” quá trình chịu ảnh hương ở các tác giả truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế ky 19 đến 1945 thông qua nhừng thay đổi từ “cách nghĩ’ đến “cách viết” cua họ. Chẩng hạn như những yếu tố liên quan đến tinh thần thế tục, tinh than khoa học thực chứng, chu nghĩa nhân văn, ý thức dân chủ, sự đề cao con người cá nhân,.và những hình thức nghệ thuật truyện ngan đặc sắc từ phương Tây nói chung, từ Pháp nói riêng đà tác động và dẫn đến những sự đồi mới cua lác giá truyện ngắn Việt Nam từ cuối the ký 19 dến 1945 trong quan niệm về sáng tác và tiếp nhận văn học, quan niệm về con người cũng như những đôi mới ở phương diện nghệ thuật.2 Xác định khái niệm truyện ngắn trong văn học Việt Nam từ cuối thế kỹ ỉ 9 đến ỉ 945 Trước tiên, chúng tôi thiết nghĩ, đế tiến hành thực hiện quá trình tìm hiểu tổng quan về ãnh hưởng của vãn học Pháp đổi với sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế ký 19 đen 1945 cẩn xác định khái niệm truyện ngắn cũng 10 như “đời sống” của nó trong văn học nước ta thời kỳ này. Như phần Lí do chọn đề tài chúng tôi đã trình bày, khái niệm truyện ngắn sư dụng trong luận án là truyện ngắn hiện đại để phân biệt với những thể loại truyện ngắn chừ Hán, chữ Nôm trong văn học thời trung đại ở nước ta như: truyện thần quái, truyện truyền kỳ, truyện diễn ca lịch sừ, truyện thơ Nôm.
Trên thế giới hiện nay có khá nhiều cách thức xây dựng định nghĩa về thề loại truyện ngan. Có những nhà nghiên cứu dựa vào thể loại tiểu thuyết đế xác lập khái niệm truyện ngắn, kiểu như: “truyện ngắn so với tiểu thuyết giống như phim ngắn so với phim dài”, “truyện ngẳn là một loại tiếu thuyết rất ngắn” (quan niệm của Hervé Le Tellier trong chương mục “Truyện ngắn” ở Từ điên Pháp ngữ), “Tiêu thuyêt là nhạc giao hưởng hay nhạc kịch. Truyện ngăn là nhạc thính phòng.” (Pierre Mertens) (Phạm Thị Thật.95-96); Từ điển Oxford trên trang https://en.com định nghía truyện ngắn: “Một câu chuyện với một chu đề hoàn thiện nhưng ngắn hơn và ít phức tạp hơn so với một cuốn tiểu thuyết”1,. Những nhà nghiên cứu khác lại tập trung vào dung lượng cùa tác phẩm đê xác định thế loại, kiểu như Annie Mignard, nhà văn đồng thời cũng là nhà nghiên cứu về truyện ngan người Pháp, với một định nghĩa rất đơn gián trên cơ sờ độ dài cùa tác phẩm khi phát biểu tại Hội nghị bàn tròn về truyện ngắn, Versailles ngày 16/03/2001, bà nhấn mạnh: “Tất cả nhừng gì không phai tiêu thuyết là truyện ngắn.
Đó là những tác phẩm hư cấu dưới một trăm trang, bới vì với các nhà xuất bản, tiểu thuyết bắt đầu từ 100, 150 hay 200 trang” (Phạm Thị Thật, 2007, tr. Jorge Louis Borges (1899 - 1966), nhà văn Argentina, bậc thầy truyện ngắn thế kỷ XX quan niệm: “Tác giả có thể có đủ toàn bộ truyện ngắn trong đầu mình, nhưng một cuốn tiểu thuyết thì không thế” (Jorge Louis Borges, 2001, tr. Godenne (Pháp) thì cho rằng “truyện ngắn” đã trở thành “một đặc ngữ chi tất cả những thế loại văn tường thuật không phái là tiểu thuyết”, đồng thời ông rút ra bốn đặc diem chính sau: 1 Tạm dịch tù' “Â story with a fully developed theme but significantly shorter and less elaborate than a novel", https://en.com/definition/short_story 11 - Truyện ngắn là một câu chuyện ngắn; - Truyện ngan là một câu chuyện được xây dựng trên một chú đề hẹp; - Truyện ngắn là một câu chuyện được kể nhanh, ngắn gọn; - Truyện ngan là một câu chuyện tran thuật (nghĩa là mang dấu ấn văn nói) (Phạm Thị Thật, 2007, tr. Như vậy, có thể thấy phần nào thể loại truyện ngắn nói chung đà được xác định dựa trên sự so sánh với tiều thuyết về độ dài, độ phức tạp (kết cẩu, tình tiết truyện).
ơ Việt Nam, đặc biệt là Nam Bộ, với đặc thù các truyện ngắn đầu tiên đến với độc gia chủ yếu qua kênh báo chí dưới hình thức “in thành tập theo lối các tác phâm bình dân hoặc trong các sách quang cáo nhỏ, đê chuyên tay” (Bùi Đức Tịnh.