Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9222021) của nghiên cứu sinh Trần Thị Bảo Giang, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Huỳnh Như Phương và TS. Nguyễn Mạnh Hùng. Hội đồng phản biện độc lập và phản biện gồm các nhà nghiên cứu: Trần Hoài Anh, Hà Ngọc Hòa, Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Thành Thi và Hà Minh Châu.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Giao lưu và tiếp biến văn hóa, văn học giữa các quốc gia là một quy luật tất yếu trong tiến trình phát triển của nhân loại. Trong lịch sử văn học Việt Nam, bên cạnh ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa thời trung đại, quá trình tiếp xúc với văn hóa và văn học phương Tây – đặc biệt là văn học Pháp từ nửa cuối thế kỷ 19 – đã tạo ra những biến chuyển sâu sắc trong đời sống tinh thần và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Mặc dù ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn học Việt Nam đã thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, song các công trình trước đây phần lớn tập trung vào hai thể loại thơ ca và tiểu thuyết. Khía cạnh ảnh hưởng của văn học Pháp đối với thể loại truyện ngắn giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1945 vẫn chưa có công trình chuyên khảo chuyên sâu và toàn diện. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết nhằm khỏa lấp khoảng trống thể loại trong lịch sử văn học dân tộc.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Luận án hướng tới mục đích làm rõ những tác động trực tiếp và gián tiếp của văn học Pháp đối với sự hình thành, vận động và phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1945; khảo sát quá trình thu nhận và chuyển hóa các ảnh hưởng từ văn học Pháp của các tác giả truyện ngắn Việt Nam; qua đó khẳng định thành tựu hiện đại hóa thể loại truyện ngắn cũng như vị thế, tính tự chủ và năng lực thích ứng của văn học Việt Nam trong quỹ đạo giao lưu quốc tế.
  • Đối tượng nghiên cứu:
    1. Những tác động và ảnh hưởng của văn học Pháp đối với sự phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1945.
    2. Quá trình hiện đại hóa thể loại truyện ngắn trong đời sống văn học Việt Nam giai đoạn này, bao gồm việc cắt nghĩa nguyên nhân, chỉ ra các tương quan thẩm mỹ giữa các tác giả, tác phẩm và giữa hai nền văn học Pháp – Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian và thời gian: Không gian văn học Việt Nam (khởi đầu từ Nam Bộ, sau đó lan tỏa ra Bắc Bộ và Trung Bộ) trong khung thời gian lịch sử từ cuối thế kỷ 19 (mốc mở đầu từ năm 1887 với tác phẩm Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản) đến năm 1945 (Cách mạng Tháng Tám).
    • Nội dung khảo sát: Khảo sát các ảnh hưởng trực tiếp (mô phỏng, phóng tác, tiếp xúc văn bản gốc, dịch thuật) và ảnh hưởng gián tiếp (chuyển biến tư duy nghệ thuật, tinh thần thế tục, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cá nhân) trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật của thể loại truyện ngắn hiện đại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong luận án, tác giả đã tiến hành điểm lại các hướng nghiên cứu trước đây về quan hệ văn học Pháp – Việt và tiến trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ:

  • Các công trình nghiên cứu giai đoạn trước 1945:

    • Phạm Quỳnh (1921) với bài viết Bàn về tiểu thuyết trên Nam Phong tạp chí, bước đầu phân tích diện mạo và vai trò của thể loại tự sự phương Tây.
    • Trúc Hà (1932) với Lược khảo về tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết, tìm hiểu sự chuyển đổi từ văn vần sang văn xuôi.
    • Trương Tửu (1938) với Những thí nghiệm của ngòi bút tôi, trình bày những suy nghĩ về kỹ thuật viết văn hiện đại.
    • Vũ Bằng (1941) với Khảo về tiểu thuyết.
    • Lê Thanh (1941) trên tạp chí Tri Tân với các bài viết Ảnh hưởng văn chương Pháp trong văn chương Việt Nam, Nhìn qua văn học năm 1941, Văn học Việt Nam hiện đại 1900 - 1940, khẳng định nền văn chương mới hình thành từ sự dung hòa giữa hai nguồn ảnh hưởng văn chương Trung Hoa và văn chương Pháp.
    • Vũ Ngọc Phan (1942) trong công trình phê bình Nhà văn hiện đại, khảo sát các tác gia, tác phẩm tiêu biểu đầu thế kỷ 20 và ghi nhận sự chuyển biến của văn xuôi dưới tác động của văn học phương Tây.
    • Kiều Thanh Quế (bút danh Mộc Khuê, 1942) với Ba mươi năm văn học và Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1969), nhận định bước chuyển biến lịch sử qua "cuộc cách mệnh giữa bút lông và bút sắt" – hai đại diện chính của văn học Trung Hoa và văn học Pháp.
    • Dương Quảng Hàm (1944) trong giáo trình Việt Nam văn học sử yếu, khẳng định tác động sâu xa của nền Pháp học và việc tiếp xúc trực tiếp với văn học Pháp đối với tầng lớp trí thức Tây học.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình của những nhà nghiên cứu tiền bối chủ yếu xem xét văn xuôi tự sự nói chung hoặc tập trung vào thể loại tiểu thuyết và phong trào Thơ mới. Thể loại truyện ngắn hiện đại – với tư cách là một cấu trúc thẩm mỹ độc lập có thi pháp và quy luật vận động riêng – chưa được đặt trong một công trình khảo cứu chuyên biệt và toàn diện về phương diện tiếp nhận và chịu ảnh hưởng từ văn học Pháp. Luận án xác định vị trí nghiên cứu là công trình chuyên khảo tập trung khảo sát riêng thể loại truyện ngắn từ khởi điểm Nam Bộ cuối thế kỷ 19 đến đỉnh cao 1930 - 1945 trên cả diện rộng (trào lưu, khuynh hướng) và diện hẹp (thi pháp tác giả, tác phẩm).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  1. Lý thuyết Văn học so sánh: Luận án vận dụng quan điểm của trường phái so sánh Pháp, tiêu biểu là Paul Van Tieghem (1871-1948) về việc nghiên cứu quan hệ giữa các nền văn học thông qua các tác động thực sự giữa tác phẩm đi trước và tác phẩm đi sau, cũng như vai trò của các yếu tố trung gian môi giới văn chương (les intermédiaires) như bản dịch, bài phê bình, giới thiệu báo chí.
  2. Lý thuyết Tiếp nhận văn học: Vận dụng quan niệm của Stanley Fish về "cộng đồng thông diễn" (interpretive communities), Norman N. Holland về tâm lý người đọc, lý thuyết tiếp nhận của trường phái Konstanz (Đức) gồm quan điểm của Wolfgang Iser về hai cực của văn bản (cực nghệ thuật - artistic do tác giả tạo ra và cực thẩm mỹ - aesthetic do độc giả nhận thức), khái niệm "tầm đón đợi" (horizon of expectations) của Hans Robert Jauss, và quan niệm thích nghi dân tộc của Nikolai Konrad.
  3. Khái niệm thể loại truyện ngắn hiện đại: Luận án tổng hợp các quan niệm lý thuyết của Hervé Le Tellier, Pierre Mertens, Annie Mignard, Jorge Luis Borges, R. Godenne, Lại Nguyên Ân (150 thuật ngữ văn học), Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Từ điển văn học), Phương Lựu (Lí luận văn học), Lê Huy Bắc, Huỳnh Như Phương, cùng phát biểu của các nhà văn thực hành như Nguyễn Công Hoan ("truyện ngắn là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết") và Tô Hoài ("truyện ngắn là cưa lấy một khúc của đời sống"). Từ đó, luận án xác lập tiêu chí truyện ngắn hiện đại gồm: quy mô dung lượng ngắn gọn, tính hư cấu, cốt truyện tập trung, giản lược chiều kích không gian - thời gian, phương thức trần thuật cô đọng và kết thúc tạo điểm nhấn bất ngờ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử - xã hội: Phân tích những chuyển biến về bối cảnh lịch sử, xã hội, sự thay đổi ý thức hệ tác động đến sự hình thành và phát triển của truyện ngắn.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Đặt từng tác giả, tác phẩm như một cấu trúc bộ phận nằm trong hệ thống thể loại truyện ngắn và tiến trình hiện đại hóa văn học.
  • Phương pháp loại hình: So sánh thể loại truyện ngắn với các thể loại tự sự trung đại (truyện truyền kỳ, truyện thơ Nôm, truyện ngụ ngôn) và các thể loại hiện đại khác (tiểu thuyết, kịch nói).
  • Phương pháp thi học so sánh: Đối chiếu các tác phẩm, khuynh hướng truyện ngắn Việt Nam với các tác phẩm, khuynh hướng văn học Pháp nhằm chỉ ra những nét tương đồng, dị biệt và cơ chế chuyển hóa thẩm mỹ.
  • Các phương pháp bổ trợ: Tiếp cận xã hội học văn học, văn hóa học - lịch sử, thi pháp học - cấu trúc luận, tự sự học, phương pháp tiểu sử tác giả và thống kê - phân loại.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Các văn bản truyện ngắn tiếng Việt từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1945 in trên sách báo tại Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ.
  • Báo chí và tạp chí định kỳ thời kỳ thuộc địa: Gia Định báo, Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Tri Tân, Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ bảy.
  • Các văn bản dịch thuật, phỏng tác tác phẩm văn học Pháp (Molière, Corneille, Alexandre Dumas, Hector Malot, Guy de Maupassant, Émile Souvestre...).
  • Các công trình nghiên cứu lịch sử, xã hội, văn học sử và lý luận văn học xuất bản tại Việt Nam và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của văn học Pháp đối với sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945

Chương này trình bày cơ sở lý luận, xác định khái niệm truyện ngắn hiện đại, phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và điểm luận các kênh tiếp nhận văn hóa, văn học Pháp tại Việt Nam.

  • Bối cảnh lịch sử và sự biến động xã hội:

    • Lịch sử tiếp xúc với phương Tây khởi nguồn từ thế kỷ 16 qua thương nhân và giáo sĩ (chuyến tàu của Antonio de Parca năm 1535, thương điếm Hội An năm 1636 của người Hà Lan do Cornelis Coesar cai quản, thương điếm Phố Hiến 1645, Phú Xuân 1695).
    • Quá trình thực dân Pháp xâm lược từ năm 1858 đến năm 1945 tạo nên những đợt tiếp xúc cưỡng bức lẫn tự nguyện. Hai chặng đường tiếp nhận của xã hội Việt Nam:
      1. Giai đoạn thù địch, bài ngoại: Dưới triều Nguyễn với các dụ cấm đạo của vua Thiệu Trị (1847, 1851), cuộc bút chiến giữa sĩ phu Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường.
      2. Giai đoạn canh tân và tiếp nhận có chọn lọc: Các điều trần của Nguyễn Trường Tộ (từ năm 1863), tư tưởng cải cách của Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907).
    • Sự khủng hoảng ý thức hệ Nho giáo: Cơ cấu xã hội luân thường phong kiến (tam cương, ngũ thường, ngũ luân) và mẫu hình "con người nghĩa vụ" phục tùng cộng đồng dần bị giải thể. Việc chấm dứt hoàn toàn chế độ khoa cử (kéo dài từ năm 1075 đến năm 1919) thúc đẩy sự ra đời của tầng lớp trí thức tiểu tư sản Tây học được đào tạo qua hệ thống giáo dục Pháp - Việt.
  • Các thiết chế văn hóa thúc đẩy sự ra đời của truyện ngắn:

    • Sự phổ biến của chữ quốc ngữ: Chuyển biến từ việc ban hành các nghị định hành chính tại Nam Kỳ (Nghị định ngày 06/04/1878 quy định bắt buộc dùng chữ quốc ngữ từ 01/01/1882) đến việc phổ biến văn chương quốc ngữ trên cả nước.
    • Sự hình thành hệ thống nhà in và xuất bản: Nhà in Vĩnh Trị (1855) phối hợp khắc gỗ và chữ rời; Thống soái Bonard mang máy in và thợ in sang Sài Gòn năm 1862; Nhà in Thừa sai Tân Định (1874) in ấn nhiều loại ấn phẩm chữ quốc ngữ, chữ Latinh, chữ Pháp.
    • Hệ thống báo chí quốc ngữ: Xuất hiện sớm nhất tại Nam Kỳ với Gia Định báo (15/04/1865), sau đó là Đông Dương tạp chí (1913, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút) và Nam Phong tạp chí (1917, do Phạm Quỳnh làm chủ bút) tại Bắc Kỳ với chủ trương "thâu nạp Á - Âu, điều hòa tân cựu".
  • Các hình thức tiếp nhận văn học Pháp:

    • Qua văn bản dịch thuật: Các bản dịch ngụ ngôn La Fontaine của Trương Minh Ký (Chuyện Phansa diễn ra quốc ngữ), Phú bần truyện (dịch Émile Souvestre, 1884), Tê-lê-mặc phiêu lưu ký (dịch Fénelon, 1885); các bản dịch truyện ngắn Guy de Maupassant của Dương Quảng Hàm (Cái bàn tay, 1921), Vũ Văn Định (Chuỗi hạt kim cương, 1922), Phạm Quỳnh (Chuyện trên xe lửa, 1931).
    • Qua hình thức cải biên/phóng tác: Hiện tượng phóng tác tiểu thuyết và truyện Pháp thành tác phẩm bối cảnh Việt Nam, tiêu biểu là các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh tại Nam Bộ và Hoàng Cầm tại Bắc Bộ.
    • Qua nghệ thuật sân khấu và sáng tác tiếng Pháp: Các vở kịch cổ điển Pháp của Molière (Người bệnh tưởng công diễn 1920 tại Hà Nội, Trưởng giả học làm sang, Người biển lận 1923), Pierre Corneille (Le Cid, Horace dịch thành tuồng Lôi Xích, tuồng Hòa Lạc); các tác giả Việt Nam sáng tác bằng tiếng Pháp như Nguyễn Ái Quốc (Bản án chế độ thực dân Pháp, 1925), Nguyễn An Ninh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường.
Thiết chế / Phương tiện Thời gian / Mốc dấu Tác phẩm / Nhân vật tiêu biểu Vai trò đối với truyện ngắn
Báo chí quốc ngữ 1865 (Gia Định báo); 1913 (Đông Dương tạp chí); 1917 (Nam Phong tạp chí) Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh Tạo môi trường đăng tải truyện ngắn định kỳ, định hình ngôn ngữ tự sự văn xuôi.
Nhà in & Xuất bản 1855 (Vĩnh Trị); 1862 (Bonard); 1874 (Tân Định) J. Linage (Sài Gòn) Xuất bản tập san, sách bỏ túi, truyện ngắn quốc ngữ đầu tiên (Thầy Lazaro Phiền, 1887).
Dịch thuật văn học Thập niên 1880 - 1930 Trương Minh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Dương Quảng Hàm Cung cấp mẫu hình thi pháp phương Tây (La Fontaine, Molière, Guy de Maupassant).
Cải biên & Phóng tác Thập niên 1910 - 1930 Hồ Biểu Chánh (Chúa tàu Kim Quy, Ngọn cỏ gió đùa, Cay đắng mùi đời) Thử nghiệm cấu trúc tự sự Tây phương phù hợp tâm lý tiếp nhận bản địa.

Chương 2: Ảnh hưởng của văn học Pháp đối với sáng tác và tiếp nhận truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945

Chương này đi sâu khảo sát sự chuyển dịch trong các khuynh hướng sáng tác truyện ngắn dưới tác động của văn học Pháp:

  • Khuynh hướng tả thực: Xuất hiện sớm nhất trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ qua các tập ký, truyện kể đời thường của Huỳnh Tịnh Của (Chuyện giải buồn), Trương Vĩnh Ký (Chuyện đời xưa, 1886; Chuyện khôi hài). Văn xuôi chuyển từ tính chất ước lệ, tượng trưng trung đại sang phản ánh hiện thực sinh hoạt, phong tục thường nhật và lời ăn tiếng nói bình dân.
  • Khuynh hướng lãng mạn: Chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa lãng mạn Pháp thế kỷ 19 (Lamartine, Chateaubriand, Victor Hugo). Thể hiện sâu sắc qua truyện ngắn của nhóm Tự Lực văn đoàn và các cây bút lãng mạn trữ tình như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh. Khuynh hướng này đề cao thế giới nội tâm, rung cảm tinh tế, giải phóng tình cảm cá nhân thoát khỏi ràng buộc lễ giáo phong kiến.
  • Khuynh hướng hiện thực: Tiếp thu kỹ thuật và tinh thần hiện thực phê phán, chủ nghĩa tự nhiên Pháp (Balzac, Flaubert, Maupassant, Zola). Phát triển mạnh mẽ qua ngòi bút của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài với cái nhìn mổ xẻ hiện thực xã hội, phê phán bất công và khắc họa số phận tầng lớp bình dân, tha hóa nhân cách.
  • Sự thay đổi trong quan niệm tiếp nhận: Người đọc chuyển từ tâm thế "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí" sang nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ cá nhân, khám phá các câu chuyện hư cấu đời thường, đòi hỏi tính logic, chiều sâu tâm lý và phong cách trần thuật hiện đại.

Chương 3: Ảnh hưởng của văn học Pháp đối với quan niệm về con người trong truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945

Chương này phân tích những biến đổi trong cấu trúc ý thức nghệ thuật và mô hình nhân vật:

  • Sự lên ngôi của cái tôi cá nhân: Con người cá nhân ý thức về bản ngã, quyền sống, tình yêu và phẩm giá thay thế cho con người phi cá tính trong văn học trung đại.
  • Các dạng thức quan niệm về con người:
    1. Mô phỏng con người nghĩa vụ: Giai đoạn giao thời vẫn lưu giữ nét ứng xử của đạo đức truyền thống nhưng bắt đầu chịu sự giằng xé trước hoàn cảnh mới.
    2. Con người tự thuật: Nhân vật trực tiếp bộc lộ dòng ý thức, cảm xúc riêng tư, tâm sự cá nhân qua ngôi kể thứ nhất.
    3. Con người của những khát vọng vượt thoát: Nhân vật lãng mạn khao khát tự do, vượt lên khuôn mẫu luân lý cổ hủ để khẳng định tình yêu và khát vọng sống.
    4. Con người trong mối quan hệ với đời sống thực tại: Con người bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội, quy luật kinh tế, tâm lý và bản năng sinh học, được miêu tả chân thực trong sự va đập với thực tế khắc nghiệt.

Chương 4: Ảnh hưởng của văn học Pháp về phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945

Chương này tổng kết các cách tân hình thức nghệ thuật của thể loại truyện ngắn:

  • Đổi mới trong lựa chọn chủ đề: Mở rộng biên độ đề tài sang đời sống thị dân, bi kịch gia đình tư sản, số phận người lao động nghèo, tâm lý lứa đôi, thế giới nội tâm vô thức.
  • Đổi mới nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu: Phá vỡ kết cấu chương hồi, cốt truyện theo trật tự thời gian tuyến tính truyền thống; thay thế bằng cốt truyện tâm lý, kết cấu mở, kết cấu đảo lộn thời gian, kết thúc đột ngột bất ngờ theo lối truyện ngắn Maupassant.
  • Đa dạng hóa thi pháp nhân vật: Nhân vật không còn là biểu tượng đạo đức tĩnh tại hay phân tuyến thiện - ác rạch ròi, mà trở thành những cá tính đa chiều, có đời sống nội tâm phức tạp, ngôn ngữ mang tính cá thể hóa cao.
  • Đổi mới phương thức tổ chức trần thuật: Chuyển dịch điểm nhìn trần thuật từ người kể chuyện toàn tri ngôi thứ ba sang điểm nhìn bên trong của nhân vật, sử dụng dòng ý thức, độc thoại nội tâm và phối hợp đa giọng điệu.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt khoa học và lý luận:
    • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ quy luật vận động của thể loại truyện ngắn Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa dưới tác động của văn học Pháp từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1945.
    • Minh định vai trò của thể loại truyện ngắn như một cấu trúc thẩm mỹ năng động, góp phần quan trọng vào tiến trình chuyển đổi từ hình thái văn học trung đại sang văn học hiện đại.
    • Vận dụng kết hợp lý thuyết văn học so sánh và lý thuyết tiếp nhận văn học để lý giải cơ chế thu nhận, thanh lọc và biến đổi các ảnh hưởng văn học nước ngoài của các nhà văn Việt Nam.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Khảo sát toàn diện diện mạo truyện ngắn từ điểm khởi đầu Nam Bộ (với Thầy Lazaro Phiền năm 1887 của Nguyễn Trọng Quản và các tác phẩm của Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh) đến các trào lưu truyện ngắn lãng mạn và hiện thực trước 1945.
    • Chỉ ra sự chuyển biến cụ thể trên các bình diện: quan niệm sáng tác, quan niệm về con người, kỹ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật.
    • Cung cấp tư liệu thư mục, văn bản dịch thuật và các bài viết khảo cứu trên báo chí thời kỳ 1865 - 1945 phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được xác định trong văn bản, luận án tập trung khảo sát dòng chảy chủ đạo của truyện ngắn quốc ngữ chịu ảnh hưởng từ văn học Pháp và văn hóa phương Tây trong giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1945. Do tập trung vào mối quan hệ Pháp – Việt, luận án chưa mở rộng so sánh sâu với ảnh hưởng của các nền văn học phương Tây khác (như văn học Anh, Mỹ, Nga) hoặc ảnh hưởng từ tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc giai đoạn cận hiện đại đối với truyện ngắn Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát sự tiếp nối và biến đổi của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1945 trong mối tương quan với các nền văn học thế giới khác.
    • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt từng trường hợp tác gia truyện ngắn tiêu biểu trong việc tiếp biến thi pháp truyện ngắn phương Tây.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học: Cung cấp khung lý thuyết văn học so sánh, thi pháp học thể loại và phương pháp tiếp cận văn bản tự sự giai đoạn giao thời và hiện đại hóa.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử văn học: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử báo chí (từ Gia Định báo, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí đến các ấn phẩm thập niên 1930 - 1940) và phân tích cụ thể về mảng văn học Nam Bộ thời kỳ đầu.
  • Những người làm công tác nghiên cứu văn hóa và giao lưu quốc tế: Cung cấp cái nhìn thực chứng về quy luật tiếp biến văn hóa, khả năng giữ gìn bản sắc dân tộc khi tiếp nhận các giá trị văn hóa, văn học nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chọn truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ 19 làm điểm xuất phát khảo sát?
Trả lời: Nam Bộ là nơi hội tụ các tiền đề lịch sử - xã hội cho quá trình hiện đại hóa sớm nhất cả nước: nơi chữ quốc ngữ được áp dụng hành chính và truyền bá sớm (từ 1882), nơi xuất hiện tờ báo quốc ngữ đầu tiên (Gia Định báo, 1865) và là nơi xuất bản tác phẩm văn xuôi viết theo lối Tây phương đầu tiên (Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, 1887 do nhà in J. Linage tại Sài Gòn xuất bản).

2. Luận án phân biệt khái niệm "truyện ngắn hiện đại" với truyện ngắn thời trung đại dựa trên những tiêu chí nào?
Trả lời: Luận án căn cứ vào dung lượng và thi pháp: truyện ngắn hiện đại viết bằng văn xuôi quốc ngữ, có tính hư cấu, cốt truyện tập trung giải quyết một mâu thuẫn hay sự kiện, giản lược chiều kích không gian - thời gian, có cấu trúc trần thuật hiện đại và kết thúc cô đúc; phân biệt với các thể loại tự sự trung đại chữ Hán, chữ Nôm như truyện thần quái, truyện truyền kỳ, truyện diễn ca lịch sử và truyện thơ Nôm.

3. Văn học kịch cổ điển Pháp đã du nhập vào Việt Nam qua những tác phẩm và sự kiện tiêu biểu nào?
Trả lời: Kịch Pháp du nhập qua các bản dịch và trình diễn sân khấu: vở hài kịch Người bệnh tưởng của Molière diễn bằng tiếng Việt ngày 25/04/1920 tại Nhà hát lớn Hà Nội; các vở Trưởng giả học làm sang, Người biển lận (1923); các vở bi kịch của Pierre Corneille (Le Cid, Horace) được Phạm Quỳnh dịch thành tuồng Lôi Xích, tuồng Hòa Lạc. Các sự kiện này tạo tiền đề cho sự ra đời của kịch nói thuần Việt khởi đầu bằng vở Chén thuốc độc của Vũ Đình Long (1921).

4. Những trào lưu, khuynh hướng truyện ngắn chính nào của Việt Nam chịu tác động từ văn học Pháp?
Trả lời: Ba khuynh hướng chính được luận án phân tích gồm: Khuynh hướng tả thực (khởi đầu ở Nam Bộ với Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của), Khuynh hướng lãng mạn (nhóm Tự Lực văn đoàn, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh), và Khuynh hướng hiện thực (Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao).

5. Luận án sử dụng những cơ sở lý thuyết so sánh và tiếp nhận nào để giải thích ảnh hưởng văn học?
Trả lời: Luận án sử dụng lý thuyết văn học so sánh của Paul Van Tieghem (chú trọng tác động trực tiếp và vai trò của các môi giới văn chương - les intermédiaires), kết hợp lý thuyết tiếp nhận văn học của Stanley Fish (interpretive communities), Norman N. Holland, Wolfgang Iser (hai cực nghệ thuật và thẩm mỹ), Hans Robert Jauss (tầm đón đợi) và Nikolai Konrad (sự thích nghi dân tộc).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Bảo Giang là công trình nghiên cứu hệ thống về sự phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1945 dưới tác động của văn học Pháp. Bằng việc kết hợp lý thuyết văn học so sánh và lý thuyết tiếp nhận, tác giả đã làm rõ các kênh du nhập văn hóa, các chuyển biến trong ý thức nghệ thuật và sự đổi mới toàn diện về thi pháp thể loại. Công trình khẳng định năng lực tiếp biến sáng tạo của văn học dân tộc, chuyển hóa các yếu tố ngoại sinh thành động lực hiện đại hóa nền văn xuôi nghệ thuật Việt Nam.