Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về hoa hồng 1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại Cây hoa hồng (Rosa sp.) thuộc họ Rosaceae có nguồn gốc đầu tiên ở Trung Quốc, An Độ. Sau đó được du nhập vào các nước Châu Âu như Hà Lan, Pháp, Đức và một số nước khác. Hơn 300 loài hoa hồng có nguồn gốc ôn đới và nhiệt đới ở vùng Bắc bán cau. Hoa hồng leo có nguồn gốc từ hoa hồng dây là loại cây thân leo, thân cành như cây nho, hoa mọc chụm thành bó, súc chống bệnh kém tiêu biểu là giống Dorothy Perkins (Đặng Văn Đông và ctv, 2002).
Hoa hồng leo là loại hoa có lịch sử rất lâu đời ở các nước Châu Âu, cũng chính vì vậy mà hoa hồng leo có rất nhiều loại, tuy nhiên có thể phân chúng thành 3 loại cơ bản: - Hoa hồng leo dại: Là những giống hông leo tồn tại hoang đã trong thiên nhiên giống cây dé trồng, khỏe mạnh, ram rạp và không bị sâu bệnh, thích hợp cho những khu vườn mang phong cách phóng khoáng. - Hoa hồng leo cổ điển: Là những cây hong leo đầu tiên xuất hiện trên thế giới vào khoảng những năm 1860. Chúng cũng là tổ tiên của hồng leo hiện đại. Đặc điểm chung của loại hồng leo này là chúng mọc thành những bụi lớn.
So với hồng leo hiện đại, hồng leo cô điển có khả năng thích nghi và Leo mạnh mẽ do thân và cảnh mảnh nhưng khỏe. - Hoa hồng leo hiện đại: Austin (1993) định nghĩa hồng leo là một số giống có sự phát triển mạnh mẽ và vươn cao, dé dang tạo thành giàn. Do vậy, những cây hồng leo, thực tế không leo như tên gọi của nó, mà thực tế là những cây hoa phát triển mạnh. Khác với những loài hoa hồng bụi hay bật mầm kèm nụ hoa, cành Hoa hồng leo có xu hướng vươn dài (có khi lên đến vài mét) trước khi tạo nụ.
Chính vì vậy, hoa hồng leo thường cần giàn hỗ trợ dé có thể đứng vững. Có thể kể tên một số giống hoa hồng leo nổi tiếng như Chandos Beauty, La France, Ophelia, Pemetiana, Hybrid Musk ở Việt Nam có hồng leo phấn hồng Đà Lạt, hồng leo trắng Đà Lạt.1 Hoa hồng leo cô Hải Phòng Hoa hồng leo cô Hải Phòng có nguồn gốc từ Pháp vào thé kỉ 19. Tuy nhiên, hoa hồng leo cổ Hải Phòng đã được Malandrone nghiên cứu và lai tạo tại Ý vào năm 1958 và có tên tiếng Anh là Don Yuan rose. Hoa hồng leo cổ Hải Phòng được xếp vào giống hồng leo cổ điển, màu đỏ nhung va rat phù hợp với khí hậu Việt Nam (Đặng Quang Bích, 2022).2 Đặc điểm thực vật học Rễ thuộc loại rễ chùm, phân nhánh mạnh, phân bố nông trên lớp đất mặt từ 5 - 30 em.
Bộ rễ hoa hồng không chịu được ngập úng, ưa đất âm, song phải thông thoáng, thoát nước (Mai Thị Thơm, 2009). Thân leo, theo Swarup (1973) đa số các loài hoa hồng đều có thân rỗng ở giữa khi thân đã hóa gỗ. Cây hoa hồng có khả năng phân cành rất mạnh, trên thân có gai hoặc không có gai (trích bởi Trịnh Thế Hào, 2021). Lá hoa hồng có dạng kép lông chim 3, 5, 7, 9, 11, 13 lá chét và có đính lá kèm ở gốc, lá chét có răng cưa ở mép lá và thường có gai nhỏ ở trên gân lá.
Chiều dài của lá hầu hết các loài hoa hồng là từ 5 - 15 cm tùy theo giống mà là có màu sắc xanh đậm hay xanh nhạt, rang cưa nông hay sâu (Võ Văn Chi, 2003). Gai hoa hồng giống như hình dáng của cái móc câu, thường là một gai hoặc bụi gai. Một số loài như Rosa rugosa và Rosa pimpinelhi Folia có mật độ ngay dầy, nhọn sắc. Gai giúp cho cây hoa hồng có khả năng chống chịu tốt với côn trùng đồng thời giúp cho cây thích nghi với điều kiện hạn hán (Mai Thị Thom, 2009).
Hoa nhiều màu sắc, kích thước khác nhau, phân hóa đài hoa rõ rệt. Hoa lớn có cánh dai hợp thành chén ở gốc, xếp thành nhiều vòng cũng đính trên một dé chung. Thông thường hoa hồng cánh bộ 5 (trừ loài hoa hồng Rosa sericea thường có 4 cánh). Hoa lưỡng tính, có nhị đực và nhuy cái trên cùng một hoa.
Các nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhuy. Khi phan chín rơi trên đầu nhuy nên có thé tự thụ phan. Quả hình trái xoan có cánh đài còn lại hạt hồng nhỏ có lông, khả năng nảy mầm của hạt rất kém do có lớp vỏ dày (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Giống hoa hồng leo cô Hải Phòng được sử dụng có thân leo mềm, lá có hình bầu dục và thuôn dài ở phần đầu, lá màu xanh đậm và bóng ở mặt trên, cây có chiều cao trung bình từ 3-6 m, hoa khi nở có kích thước lớn từ 7 — 10 em, cánh kép, mau đỏ nhung.2 Các giai đoạn hình thành nụ và hoa hồng leo cổ Hai Phòng 1.
Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây hoa hồng leo 1.1 Ánh sáng Hoa hồng là cây ưa sáng, ánh sáng đầy đủ giúp cây sinh trưởng tốt, lượng bức xạ 1. Khi cây còn nhỏ yêu cầu về cường độ ánh sáng thấp hơn, khi tuổi cây càng cao thì yêu cầu về cường độ ánh sáng cao hơn. Cường độ chiếu sáng thích hợp cho hoa hồng là 40. Ảnh hưởng đến số cành, sự phát dục hoa, số lượng hoa, sản lượng.
Đa số các loại hồng yêu cầu thời gian chiếu sáng là § giờ trên một ngày. Thời gian chiếu sáng giúp tăng số cành, chiều dai cảnh và bông hữu hiệu, rút ngắn thời gian một chu kỳ ra hoa. Thời gian chiếu sáng và độ dài bước sóng có quan hệ tới sự phát dục của hoa và vị trí của mầm hoa. Ở 20°C, dùng đèn huỳnh quang chiếu sáng mỗi ngày § giờ sẽ giúp tất cả mầm trên cảnh ngắn đều phat dục thành mam hoa.
Ở 15°C, sử dụng ánh sáng trắng sẽ làm cho tất cả cành ngắn hay cành dài đều phát dục thành mầm hoa (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).2 Độ âm Độ âm của không khí và đất đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây hoa. Độ âm thích hợp thì cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh ra hoa dep, chất lượng hoa cao. Hoa hồng yêu cầu độ âm đất 70% và độ 4m không khí 80 đến 85% là thích hợp nhất cho sinh trưởng của cây hoa hồng (Phạm Văn Dué, 2005).3 Nhiệt độ Nhiệt độ là yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa hồng. Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự ra hoa và nở hoa, ảnh hưởng đến quang hợp, hô hấp, sự tạo thành các sản phẩm trao đổi chất đặc biệt là sắc tố.
Do vậy, mà nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất (Nguyễn Xuân Linh, 2000). Nhiệt độ thích hợp cho hoa hồng sinh trưởng va phát triển là 18°C - 25°C vi hoa hồng có nguồn gốc ôn đới. Hoa hồng có thé sinh trưởng và phát triển ở nhiệt độ 10 - 35°C (Nguyễn Thị Kim Lý và ctv, 2012). Nhiệt độ và độ âm tại TP.
Sa Đéc từ tháng 2 đến tháng 5 dao động từ 27 — 30°C và độ âm 66 — 84%. Điều kiện khí hậu nam trong khoảng cây hoa hồng leo có thé sinh trưởng và phát triển được.4 Dinh dưỡng Trong các nguyên tố đinh dưỡng cần thiết cho cây, không thé không nhắc đến ba nguyên tô đa lượng qua trong là đạm, lân và kali với tỷ lệ cân đối giúp cây hoa hồng sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng hoa đạt yêu cầu (Phạm Thị Minh Tâm, 2010). Đạm: Cây cần nhiều vào thời kỳ sinh trưởng, phát sinh cành nhánh cho đến lúc phân hoá mầm hoa cũng như góp phần ảnh hưởng đến kích thước, màu sắc hoa. Dạng đạm cây hap thụ chủ yếu là NOs hạn chế sử dụng dam ở dạng nitrat amon và muối sunlphat.
Dam chiếm 1 — 2% trọng lượng chất khô của cây. Hoa hồng cần 15 — 25 mg N/100 g đất khô. Lân: Cây cần chủ yếu vào thời kì ra nụ cho đến khi ra hoa, kết quả. Lân có tác dụng thúc đây sự sinh trưởng của bộ rễ, hoa, quả, hạt.
Lân chiếm 1 — 4% trọng lượng chất khô của cây. Hoa hồng cần 20 — 50 mg PzOs và không quá 100 mg PzOs/100g đất khô. Kali: Cây thường cần vào thời kì hình thành nụ, hoa, qua và hat. Kali thường tập trung ở bộ phận non và những bộ phận hấp thụ (mầm, chóp rễ).
Kali có tác dụng tăng tính chống đồ, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và tăng khả năng chịu rét cho cây. Kali chiếm 1,8 — 3,6% trọng lượng chất khô của cây. Hoa hồng cần 20 — 30 mg K20/100 g đất khô. Ngoài ra, dé nâng cao năng suất và phẩm chat hoa cần bé sung vi lượng như Ca, Mg, Fe, Zn.
Các loại phân vi lượng thường được phun qua lá vào thời kì cây con.2 Sơ lược về giá thể 1.1 Khái niệm về giá thể Giá thể được xem là một môi trường giúp cây đứng vững nhờ sự bám chặt của rễ, cung cấp nước, dinh dưỡng cho cây trồng và điều hòa nhiệt độ dựa vào khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của giá thé. Ngày nay, việc nghiên cứu và sử dung giá thể càng trở nên phổ biến nhờ vào các ưu điểm như hạn chế được sâu bệnh và cỏ dại có trong đất, một số giá thể hữu hiệu còn có giúp duy trì độ ẩm và thoáng khí tốt (Trương Thị Cam Nhung, 2016). Theo Trương Thị Cam Nhung (2016), một giá thé tốt và lý tưởng cho cây trồng cân phải có những yêu câu sau: - Trữ lượng dinh dưỡng cao va dé dàng cung cấp cho cây phân bón dé dang chuyền hóa thành dạng dé hap thu đối với cây trồng - Khả năng giữ các chất dinh dưỡng dé tiêu cao (hạn chế rửa trôi) - Cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng trong trạng thái cân bằng - GIữ va cung cap nước đây đủ - Duy trì độ thoáng khí tốt Giá thê trồng cây gồm: Phần rắn, phần rỗng, nước hữu hiệu và nước dư trong đó quan trọng nhất là phần rỗng, tạo cho giá thể thông thoáng, giúp bộ rễ cây hô hấp đồng thời giúp các vi sinh vật có ích phát triển, nước hữu hiệu giúp cây hút dễ dàng. Khi sử dụng giá thé thay cho đất thì việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng và điều chỉnh pH thích hợp là cần thiết dé cây trồng phát triển tốt (Huynh Thanh Hùng và ctv, 2018).2 Các đặc tính của giá thé 1.