Chương 1: i i thiệ đề tài. Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của đề tài. Chương 2: Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đến giá trị công ty. Ở chương này, tác giả đưa ra các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố tác động đến quyết định nắm giữ tiền mặt và ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đến giá trị công ty.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương này sẽ trình bày dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu , các giả thiết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đến giá trị công ty – Bằng chứng tại Việt Nam. Chương này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của quyết định nắm giữ tiền mặt đến giá trị công ty.
Bên cạnh đó, tác giả còn -4 123doc đi vào nghiên cứu cụ thể hơn về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đối với giá trị của các công ty có tỷ lệ sử dụng nợ khác nhau và ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đối với giá trị của các công ty có tỷ lệ nắm giữ tiền mặt khác nhau. Trong phần này, tác giả cũng đã kiểm chứng lại kết quả bằng cách mở rộng thời gian nghiên cứu thêm 2 năm. Chương 5: ết n. Trong chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và trình bày những hạn chế của bài nghiên cứu.
-5 123doc CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT ĐẾN GIÁ TRỊ CÔNG TY 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ tiền mặt của công ty Trong phần này, tác giả tóm lược lại một số kết quả nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đến giá trị công ty. Các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo thứ tự thời gian như sau: Năm 1936, trong tác phẩm nổi tiếng “General theory of employment, interest and money - Học thuyết chung về công ăn việc làm, lãi suất và tiền tệ”, Keynes đã nêu ra 3 động cơ cho việc giữ tiền: - Thứ nhất là động cơ giao dịch: khi đó, mục đích của việc nắm giữ tiền của các hộ gia đình và doanh nghiệp là để thực hiện các giao dịch hàng ngày. - Thứ hai là động cơ dự phòng: Keynes thừa nhận rằng ngoài việc giữ tiền để tiến hành giao dịch hàng ngày, người ta còn giữ thêm tiền để dự phòng cho những nhu cầu phát sinh ngoài dự kiến. - Thứ ba là động cơ tài sản: Keynes cho rằng tiền tệ là phương tiện cất giữ của cải và gọi động cơ giữ tiền là động cơ tài sản.
Tuy nhiên, xét trên góc độ doanh nghiệp thì loại động cơ thứ 3 này ít có sự liên quan đến quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Năm 1966, Miller và Orr đã xây dựng một mô hình để xác định nhu cầu tiền mặt trong điều kiện không chắc chắn, mà thường được nhắc đến với tên gọi lý thuyết đánh đổi tiền mặt. Với mô hình mà các tác giả đã đưa ra, các công ty có thể xác định mức tiền mặt tối ưu bằng cách cân bằng giữa lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt. Các lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt bao gồm: -6 123doc - Thứ nhất: là giúp cho doanh nghiệp luôn duy trì được khả năng thanh khoản trong trường hợp xảy ra những tình huống bất ngờ.
Qua đó giúp cho doanh nghiệp giảm nguy cơ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. - Thứ hai: là giúp cho doanh nghiệp vẫn thực hiện được các chính sách đầu tư của mình trong trường hợp gặp khó khăn khi tiếp cận các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài. - Thứ ba: việc sử dụng nguồn tiền mặt hiện hữu để tự tài trợ cho các hoạt động đầu tư, mua sắm tài sản sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể. Bởi vì tình trạng bất cân xứng thông tin giữa người đi vay và người cho vay sẽ làm gia tăng chi phí khi huy động vốn từ bên ngoài.
Bên cạnh những lợi ích nêu trên, việc giữ lại quá nhiều tiền mặt có thể phát sinh nhiều vấn đề: - Thứ nhất là cơ hội phí: Bởi vì tiền mặt là tài sản không sinh lời hoặc nếu có thì cũng rất ít. Do vậy, việc dự trữ tiền mặt sẽ làm mất đi cơ hội đầu tư vào các dự án sinh lời cao. Đây chính là khoản cơ hội phí mà doanh nghiệp phải chấp nhận đánh đổi khi nắm giữ tiền mặt. - Thứ hai là vấn đề chi phí đại diện: Chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong tình huống này, các doanh nghiệp có lượng tiền mặt quá dồi dào sẽ khiến cho các nhà quản trị giảm đi áp lực trong quá trình vận hành doanh nghiệp.
Họ không bị sức ép phải tính toán, điều hành hợp lý nhất để đáp ứng được các nghĩa vụ ngắn hạn, giống như các doanh nghiệp chỉ có lượng tiền mặt vừa phải theo mức cần thiết. Điều đó sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Thậm chí trong tình huống xấu hơn, các nhà quản trị cấp cao có thể sẽ thực hiện những vụ thâu tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm tranh thủ tìm kiếm lợi ích cá nhân. Năm 1984, hai tác giả Steward Myers và Nicholas Majluf đã xây dựng mô hình nghiên cứu với bối cảnh là một công ty cần phải phát hành vốn cổ phần huy động tiền mặt để tài trợ cho dự án đầu tư quan trọng của họ.
Các giả định được tác giả -7 123doc đưa ra là: ban lãnh đạo công ty hiểu rõ hơn về giá trị của công ty so với các nhà đầu tư tiềm năng bên ngoài. Còn các nhà đầu tư thì có khả năng phân tích một cách hợp lý về các hoạt động của công ty. Dựa trên các giả thuyết này, các tác giả đã xây dựng một mô hình cân bằng giữa quyết định của nhà phát hành và các nhà đầu tư. Từ kết quả của mô hình, họ đã rút ra những kết luận như sau: - Thứ nhất, các công ty nên ưu tiên phát hành các loại chứng khoán an toàn để tài trợ cho mình trước khi sử dụng các công cụ rủi ro hơn.
Khi cần huy động vốn trên thị trường, các công ty nên ưu tiên vay nợ và nên hạn chế tài trợ bằng vốn cổ phần. - Thứ hai, đối với những công ty có nhu cầu vốn tài trợ cho các cơ hội đầu tư lớn hơn dòng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh và đã tận dụng hết khả năng tài trợ bằng nợ ít rủi ro, thì có khả năng họ sẽ bỏ qua các dự án đầu tư đó thay vì phát hành các chứng khoán rủi ro để tài trợ cho dự án. Việc lựa chọn không hiệu quả như vậy xuất phát từ quyền lợi của các cổ đông hiện hữu. - Thứ ba, công ty có thể nâng cao tính sẵn sàng về mặt tài chính, biểu hiện bằng tiền mặt, chứng khoán, tài sản thanh khoản khác và khả năng đi vay, bằng cách hạn chế chi trả cổ tức khi chưa có nhu cầu đầu tư.
Tiền mặt tiết kiệm được có thể nắm giữ dưới dạng chứng khoán thị trường hoặc khả năng vay nợ. Ngoài ra, các công ty cũng có thể phát hành vốn cổ phần để tài trợ cho các cơ hội đầu tư với điều kiện là lợi thế về mặt thông tin của nhà quản lý là không đáng kể. Tuy nhiên, các tác giả chỉ đề xuất chứ chưa xây dựng được một chiến lược phát hành tối ưu trong trường hợp này. - Thứ tư, các công ty không nên chi trả cổ tức nếu sau đó phải bù đắp lại lượng tiền mặt thiếu hụt bằng cách bán cổ phiếu hoặc các loại chứng khoán rủi ro khác.
- Thứ năm, các tác giả dự báo là khi các nhà quản lý có lợi thế về thông tin, nếu công ty phát hành cổ phiếu để tài trợ các dự án đầu tư thì giá cổ phiếu sẽ giảm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. -8 123doc - Cuối cùng, các tác giả cho rằng sự sáp nhập giữa một công ty dồi dào về mặt tài chính và một công ty hạn chế về tài chính sẽ giúp gia tăng giá trị của công ty sau khi kết hợp. Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng thực tế điều này rất khó xảy ra trừ khi công ty bị hạn chế tài chính có những thông tin đặc biệt khác để thuyết phục nhà đầu tư triển vọng của mình. Năm 1986, Jensen đã đưa ra lý thuyết cho rằng các nhà quản lý thường có động cơ tích trữ tiền mặt nhằm gia tăng giá trị tài sản ttrong tầm kiểm soát của họ và giành được quyền quyết định đối với các dự án đầu tư của công ty.
Với lượng tiền mặt có sẵn, các nhà quản lý không cần thiết phải tìm cách huy động nguồn vốn từ bên ngoài và do đó không cần phải công bố các thông tin chi tiết về dự án đầu tư. Điều này sẽ khuyến khích họ tự ý đầu tư vào các dự án mang lại lợi ích nhiều nhất cho bản thân để trục lợi, chứ không hành động vì mục tiêu tối đa hóa giá trị của công ty và các cổ đông. Năm 1999, Opler và các cộng sự đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ tiền mặt của các công ty đại chúng của Mỹ trong giai đoạn 1971 – 1994. Các tác giả đã tìm được kết quả cho thấy các công ty có tiềm năng tăng trưởng mạnh, có rủi ro kinh doanh cao và có quy mô nhỏ thường giữ tiền mặt nhiều hơn các công ty khác.
Các công ty dễ tiếp cận với thị trường vốn, chẳng hạn như các công ty lớn, các công ty được xếp hạng tín dụng cao và các công ty có đòn bẩy tài chính cao có xu hướng giữ ít tiền mặt hơn. Bên cạnh đó, các tác giả cũng tìm được những bằng chứng cho thấy các công ty hoạt động hiệu quả thường có xu hướng tích lũy tiền mặt nhiều hơn so với dự báo của mô hình lý thuyết đánh đổi trong điều kiện các nhà quản lý hành động nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông. Đây là hành vi có thể được lý giải bởi động cơ dự phòng của những công ty này.