Đặt vấn đề Các giống vật nuôi phong phú góp phần quan trọng trong bảo tồn tính đa dạng sinh học, có ý nghĩa lớn trong sự phát triển kinh tế, đảm bảo đời sống xã hội và an ninh quốc phòng. Ngoài những ý nghĩa đó, giống vật nuôi còn đóng vai trò quan trọng trong công tác lai tạo giống. Mặc dù năng suất không cao nhưng các giống gà bản địa có nhiều ưu điểm như: chất lượng thịt thơm ngon, dễ nuôi, có khả năng tự tìm kiếm thức ăn, có thể nuôi trong điều kiện chăn thả hoặc bán chăn thả ở các vùng khí hậu khác nhau, có khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt tốt hơn so với các giống gà đã được lai tạo, có khả năng đề kháng tốt với bệnh tật. Chương trình bảo tồn nguồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật nói chung và bảo tồn nguồn gen vật nuôi nói riêng ở Việt Nam đã trải qua hơn hai thập kỷ, nhiều nguồn gen đã thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Tuy nhiên, công tác bảo tồn nguồn gen của gà nhiều cựa đang gặp nhiều khó khăn cần được giải quyết trong thời gian sớm nhất. Gà nhiều cựa (thực ra là giống gà nhiều ngón) là giống gà được đưa vào danh sách những giống gia cầm quý hiếm cảnh báo ở mức độ nguy hiểm. Từ lâu người dân đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ đã nuôi giống gà nhiều cựa. Tuy nhiên, hiện nay giống gà này chỉ còn với số lượng rất ít, nếu không có kế hoạch nghiên cứu, bảo tồn và phát triển thì rất dễ bị lai tạp và dần bị tuyệt chủng.
Từ những luận giải trên cho thấy, việc nghiên cứu quy trình chăn nuôi đàn gà nhiều cựa, trong đó có vấn đề sử dụng thuốc phòng bệnh để đảm bảo sức khỏe cho đàn gà nhiều cựa là vấn đề cần thiết. 2 Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa và sự giúp đỡ của Thầy, Cô giáo trong nhóm nghiên cứu đề tài, em đã thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc phòng bệnh đến tỷ lệ mắc bệnh và sinh trưởng của gà nhiều cựa 0 - 20 tuần tuổi tại trại gia cầm, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Xác định được ảnh hưởng của thuốc phòng bệnh đến tỷ lệ mắc bệnh và sinh trưởng của đàn gà nhiều cựa: - Ấp nở gà nhiều cựa để có gà 01 ngày tuổi bố trí thí nghiệm.
- Xác định được khối lượng gà nhiều cựa qua các tuần tuổi. - Xác định được tình hình mắc bệnh của gà nhiều cựa ở 2 lô thí nghiệm. - Theo dõi triệu chứng, bệnh tích của một số bệnh trên gà nhiều cựa. - Xác định được hiệu lực của một số phác đồ điều trị bệnh cho gà nhiều cựa thí nghiệm.
Yêu cầu - Chuẩn bị kiến thức đã được học về quy trình chăn nuôi, kiến thức sử dụng thuốc thú y, các dụng cụ thú y để sẵn sàng cho đợt thực tập; luôn luôn học hỏi, tìm hiểu, trau dồi thêm kiến thức của bản thân. - Chăm chỉ, hăng hái tham gia các công việc tại trại, nhất là các công việc chuyên môn. - Nắm rõ tình hình đặc điểm của đàn gà nhiều cựa tại trại. - Chủ động, chịu khó quan sát tình hình mắc bệnh và sinh trưởng của đàn gà nhiều cựa thí nghiệm.
- Thực hành thành thạo các thao tác đối với các dụng cụ, trang thiết bị chăn nuôi; các dụng cụ thú y tại trang trại. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất của gia cầm Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại, chúng có nhiều đặc điểm khác với gia súc là có bộ xương xốp nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước biến thành cánh để bay, con mái đẻ trứng sau đó chúng ấp nở thành con non.
Bên cạnh đó cấu tạo và chức năng bộ máy tiêu hóa của gia cầm cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt: Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, khoang miệng không có răng và môi, mặt trên lưỡi có những răng nhỏ đã hóa sừng hướng về phía cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản, thức ăn không được nghiền nhỏ mà chỉ được thấm đều nước bọt để dễ nuốt. Thức ăn từ miệng vào thực quản, thực quản phình to thành diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn trong thức ăn thực vật, nhờ men amylase tinh bột được phân giải thành đường đơn glucoza, ở gà không có phản xạ nôn, thức ăn ở diều không trở lại miệng được. Dạ dày gia cầm bao gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa, nhờ có màng cơ và màng sừng phát triển mà thức ăn được nghiền nhỏ và trộn lẫn với dịch vị của dạ dày tuyến axit chlohydric tác động làm cho protein trở nên căng phồng, lúc này nhờ có men pepsin chúng phân giải thành peptone và một thành phần axit amin.
Sỏi và các dị vật chứa trong dạ dày có một ý nghĩa nhất định trong việc nghiền và làm sạch những tiểu thể thức ăn trong khoang dạ dày. Chúng làm tăng tác dụng nghiền của vách dạ dày. Thức ăn không được giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dạ dày tuyến làm ướt thức ăn chuyến xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá 1 lần/phút), nhiệm vụ của dạ dày tuyến là chứa axít (HCl), muối ăn, tại đây thủy phân protein như sau: Protein + H2O+ Pepsin và HCl + Albumin + Peptit. Từ dạ dày cơ thức ăn đi vào ruột, quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm.
Nguồn các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng. Thức ăn ở ruột được trộn với dịch ruột, trong dịch 4 ruột có amilaza, trypsin tiết ra có tác dụng phân giải các chất dinh dưỡng cơ bản của thức ăn như gluxit, protein để tạo thành các chất dễ hấp thụ. Tiêu hóa protein ở ruột bắt đầu từ sự tác động của HCl, men pepsin, dịch dạ dày đi vào cùng thức ăn. Gluxit phân giải thành đường đơn là chủ yếu, dưới tác động của men amilaza và dịch mật thành glycerin và axít béo.
Trong tá tràng, dưới tác động của axit clohidric và các men của dịch dạ dày (pepsin và chimosin), protein bị phân giải đến pepton và polypetit. Sự phân giải lipit được bắt đầu trong tá tràng, dưới tác động của dịch mật, dịch tuỵ và tạo ra các sản phẩm là monoglyserit, glyserin và axit béo. Ở manh tràng quá trình phân giải protit, gluxit, lipit còn tiếp tục nhờ men đường ruột do vi sinh vật tiết ra nhưng với số lượng ít, đây là nơi duy nhất phân giải một lượng xơ (10 - 30%) bằng các men vi sinh vật tiết ra. Thức ăn đi qua đường tiêu hóa rất nhanh, ở gà 10 ngày tuổi thức ăn qua đường tiêu hóa hết 2 giờ - 2 giờ 40 phút, ở gà 20 ngày tuổi hết 2 giờ 30 phút - 3 giờ, gà 70 - 130 ngày tuổi hết 3 - 4 giờ và gà trưởng thành thì thức ăn qua đường tiêu hóa sau 4 - 5 giờ (Nguyễn Duy Hoan và cs.
Vì vậy, khi gà nuốt phải mầm bệnh, chúng sẽ cùng thức ăn xuống ruột non, ruột già và manh tràng do đó quá trình xâm nhập của mầm bệnh là rất nhanh. Trong bộ máy tiêu hóa của gà, hợp chất phức tạp sẽ phân giải thành hợp chất đơn giản như: Protit, gluxit thành các chất axít amin, đường đơn, axít béo sau khi hấp thu vào máu đưa tới các cơ quan, bộ phận trên cơ thể, chúng được dùng để tạo tế bào mới khôi phục, tế bào này tạo thành dịch tiêu hóa và cơ thể luôn xảy ra quá trình phân giải, oxy hóa hợp chất hữu cơ phức tạp, nhờ đó năng lượng được giải phóng để duy trì thân nhiệt và hoạt động của cơ thể. Một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm 2.1: Khái niệm về sinh trưởng và phát triển Sự sinh trưởng của động vật thực chất là quá trình tổng hợp protein của cơ thể. Người chăn nuôi thường căn cứ vào sự tăng khối lượng cơ thể của gia cầm để đánh giá khả năng sinh trưởng của chúng.
* Sinh trưởng là gì? 5 Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá rất phức tạp, kéo dài từ khi phôi được hình thành trong trứng cho đến khi gà trưởng thành. Theo Mozan (1977): Sinh trưởng là tổng hợp sự tăng lên về kích thước và khối lượng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những tổ chức này có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định quá trình sinh trưởng (dẫn theo Chambel, 1990) [23]).
Sinh trưởng là một quá trình tích lũy chất hữu cơ cho quá trình đồng hóa và dị hóa, sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận, toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền từ đời trước (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992)) [10]. Sinh trưởng là sự tích lũy dần các chất, chủ yếu là protein, mà tốc độ tích lũy các chất và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Theo Đặng Vũ Bình (2002) [1], thực chất của sự sinh trưởng là sự tăng trưởng và phân chia tế bào trong cơ thể vật nuôi. Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein nên người ta thường lấy khả năng tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng.
* Những chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm là: + Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể tích luỹ được qua từng thời kỳ là chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm. Chỉ tiêu khối lượng cơ thể (hay còn được gọi là sinh trưởng tích luỹ) còn được minh họa bằng đồ thị gọi là đồ thị sinh trưởng tích lũy. Đồ thị này thay đổi theo dòng giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với gia cầm khối lượng cơ thể tính theo tuần tuổi có đơn vị là kg/con/tuần hoặc g/con/tuần.
+ Sinh trưởng tuyệt đối: sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát. Đơn vị của sinh trưởng tuyệt đối là g/ con/ ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng cao.