Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nguồn gen vật nuôi bản địa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học nông nghiệp, cung cấp nguồn vật liệu di truyền phục vụ công tác chọn lọc, lai tạo giống và bảo tồn giá trị kinh tế - xã hội gắn với văn hóa địa phương. Tại Việt Nam, nhiều giống gà nội có phẩm chất thịt thơm ngon, khả năng thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắt khe và sức kháng bệnh tự nhiên tốt. Tuy nhiên, một số nguồn gen quý đang đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng hoặc lai tạp nghiêm trọng, trong đó có giống gà nhiều cựa (thực chất là giống gà có nhiều ngón chân). Giống gà này gắn liền với tập quán chăn nuôi bán chăn thả của đồng bào dân tộc Dao tại thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Trước thực trạng số lượng cá thể thuần chủng còn rất ít và phương thức chăn nuôi nông hộ truyền thống chưa kiểm soát tốt dịch bệnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số 2150/QĐ-UBND ngày 08/10/2013 nhằm bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen cây trồng, vật nuôi bản địa có nguy cơ bị đe dọa. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nông Thị Bích Ngọc được thực hiện trong khuôn khổ hỗ trợ của đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Bảo tồn nguồn gen gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ” do Giáo sư Nguyễn Thị Kim Lan làm chủ nhiệm.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 5 nhiệm vụ cụ thể:
- Thực hiện ấp nở trứng gà nhiều cựa để tạo đàn gà 01 ngày tuổi phục vụ bố trí thí nghiệm.
- Xác định khối lượng cơ thể và theo dõi khả năng sinh trưởng tích lũy của gà nhiều cựa qua các tuần tuổi từ 0 đến 20 tuần tuổi.
- Xác định tình hình và tỷ lệ mắc bệnh của đàn gà nhiều cựa ở hai nghiệm thức thí nghiệm (có sử dụng và không sử dụng thuốc phòng bệnh).
- Theo dõi, mô tả các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của một số bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng thường gặp trên đàn gà thí nghiệm.
- Xây dựng và đánh giá hiệu lực của các phác đồ điều trị tương ứng cho các bệnh phát sinh trong quá trình nuôi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ từ giai đoạn 01 ngày tuổi đến 20 tuần tuổi; trứng giống thu nhận từ các mô hình chăn nuôi tại chỗ và chuyển chỗ; các loại thuốc thú y phòng, trị bệnh được phép lưu hành.
- Địa điểm nghiên cứu: Trại Chăn nuôi gia cầm thuộc Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01 tháng 06 năm 2022 đến ngày 30 tháng 11 năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý sinh lý học gia cầm và dược lý học thú y:
- Đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất: Gia cầm không có răng, thức ăn được làm mềm cơ học và tiêu hóa một phần tại diều nhờ men amylase, tiếp tục thủy phân protein tại dạ dày tuyến nhờ pepsin và axit clohydric (HCl), nghiền nát cơ học tại dạ dày cơ rồi hấp thu chính tại ruột non; tốc độ luân chuyển thức ăn qua đường tiêu hóa của gà diễn ra nhanh (từ 2 giờ đến 5 giờ tùy lứa tuổi), tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh nhanh chóng xâm nhập sâu vào hệ thống tiêu hóa.
- Quá trình sinh trưởng: Sinh trưởng được xác định là quá trình tích lũy protein và tăng sinh tế bào, đánh giá qua khối lượng cơ thể (sinh trưởng tích lũy) và tăng trọng bình quân ngày (sinh trưởng tuyệt đối). Khả năng này chịu sự chi phối của 15 cặp gen (bao gồm gen liên kết giới tính trên nhiễm sắc thể X) và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ dinh dưỡng (mức năng lượng trao đổi ME, tỷ lệ protein thô, khoáng Ca, P, axit amin thiết yếu) cùng tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng, ánh sáng).
- Cơ sở pháp lý và phòng bệnh thú y: Sử dụng thuốc phòng và điều trị tuân thủ quy định tại Phụ lục V, Thông tư 21/2019/TT-BNNPTNT ngày 28/11/2019 hướng dẫn Luật Chăn nuôi và Điều 12, Nghị định 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ; quy trình an toàn sinh học kết hợp phòng bệnh chủ động bằng vắc-xin và can thiệp bằng hóa dược thú y (thuốc úm, kháng sinh, thuốc trị ký sinh trùng).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế như sau:
- Phương pháp ấp trứng nhân tạo: Sử dụng máy ấp đơn kỳ/đa kỳ; điều chỉnh nhiệt độ từ 37,0°C đến 37,6°C và ẩm độ từ 60% đến 66% theo từng giai đoạn ấp; soi trứng 3 lần vào các ngày ấp thứ 6, 11 và 18 nhằm xác định tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở và tỷ lệ gà loại I.
- Bố trí thí nghiệm nuôi dưỡng: Thí nghiệm so sánh 2 yếu tố gồm:
- Lô 1 (Lô đối chứng): Không sử dụng thuốc phòng bệnh thú y.
- Lô 2 (Lô thí nghiệm): Có sử dụng thuốc thú y phòng bệnh định kỳ theo quy trình.
- Cả 2 lô đều thực hiện chung một lịch dùng vắc-xin (Marek, Newcastle, Gumboro, Đậu, Viêm phế quản truyền nhiễm IB, vắc-xin vô hoạt kết hợp Newcastle + IB + EDS + Gumboro) và áp dụng chế độ chăm sóc, khẩu phần thức ăn như nhau (giai đoạn 0–8 tuần tuổi cho ăn tự do, 9–20 tuần tuổi cho ăn hạn chế). Mỗi lô bố trí 30 con/lần lặp lại, thực hiện 3 lần lặp lại (tổng số 90 con/lô; tổng đàn thí nghiệm là 180 con).
- Tiêu chuẩn dinh dưỡng khẩu phần thức ăn:
| Giai đoạn tuổi |
Năng lượng ME (Kcal/kg) |
Protein thô (%) |
Ca (%) |
P tổng số (%) |
Xơ thô (%) |
Lyzin (%) |
Met + Cys (%) |
Ẩm độ (%) |
| 1 - 4 tuần |
3000 |
15 |
0,6 - 1,6 |
0,3 - 1,6 |
6,0 |
0,8 |
0,5 |
14 |
| >4 - 8 tuần |
3000 |
18 |
0,6 - 1,6 |
0,3 - 1,6 |
6,0 |
0,8 |
0,6 |
14 |
| >8 - 18 tuần |
2700 |
16 |
0,6 - 1,6 |
0,3 - 1,6 |
6,0 |
0,8 |
0,8 |
14 |
| >18 - 20 tuần |
2700 |
17 |
3,0 - 4,5 |
0,3 - 1,6 |
6,0 |
0,9 |
0,8 |
14 |
- Phương pháp theo dõi và chẩn đoán lâm sàng: Quan sát hằng ngày trạng thái tinh thần, phản xạ vận động, màu sắc mào, mắt, tính chất phân; mổ khám bệnh tích đại thể các cơ quan nội tạng đối với những cá thể chết hoặc ốm nặng cận kề tử vong để chẩn đoán nguyên nhân bệnh.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được phân tích thống kê sinh học trên phần mềm Minitab phiên bản 19, tính toán số trung bình ($\bar{X}$), sai số chuẩn ($SE$) và hệ số biến dị ($Cv%$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn giống gà nhiều cựa bản địa của đồng bào Dao huyện Đồng Hỷ, xác định mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của thuốc phòng bệnh đối với khả năng sinh trưởng và tỷ lệ mắc bệnh của đàn gà từ 0 đến 20 tuần tuổi, đồng thời nêu rõ các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được trong quá trình thực tập tại trại gia cầm.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết về giải phẫu - sinh lý tiêu hóa của loài gia cầm; các yếu tố di truyền và ngoại cảnh chi phối tốc độ tích lũy khối lượng; các nguyên tắc thú y phòng bệnh sinh học và hóa dược. Tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đặc điểm di truyền đột biến nhiều ngón (polydactyly), năng suất sinh sản và sinh trưởng của các giống gà nội địa Việt Nam như gà Ri, gà Mía, gà Móng, gà Đông Tảo và các kết quả nghiên cứu bước đầu về gà nhiều cựa tại Phú Thọ, Lạng Sơn.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết nguồn gốc trứng giống, địa điểm, thời gian nghiên cứu; sơ đồ bố trí thí nghiệm chia lô đối chứng và lô thử nghiệm thuốc; quy trình kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm máy ấp; quy trình vệ sinh chuồng trại; lịch dùng vắc-xin chi tiết; công thức dinh dưỡng thức ăn theo tuần tuổi và các công thức toán học xác định tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ khỏi bệnh sau điều trị.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được qua 5 nội dung chính:
- Kỹ thuật và kết quả ấp nở: Tổng số 780 quả trứng qua 3 đợt ấp ghi nhận 704 quả có phôi (tỷ lệ 90,25%), số gà nở ra là 630 con (tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 89,46%). Số gà con đạt tiêu chuẩn loại I là 544 con (đạt 87,02% số gà nở). Tỷ lệ gà loại thải chiếm 12,98%, trong đó có từ 5% đến 6% cá thể không mang đặc điểm nhiều cựa hoặc bị dị tật hở rốn, khoèo chân.
- Khả năng sinh trưởng tích lũy: Khối lượng gà 01 ngày tuổi giữa 2 lô tương đương nhau (Lô 1 đạt 33,28 gam; Lô 2 đạt 32,86 gam). Đến 8 tuần tuổi, khối lượng bình quân Lô 1 đạt 617,44 gam và Lô 2 đạt 627,69 gam. Do số lượng gà trống ít, từ tuần 9 đến tuần 20 tác giả theo dõi riêng trên đàn gà mái. Đến 20 tuần tuổi, khối lượng bình quân của gà mái Lô 2 (dùng thuốc phòng bệnh) đạt 1534,50 gam, cao hơn có ý nghĩa so với Lô 1 (không dùng thuốc phòng) chỉ đạt 1519,40 gam. Đồng thời, số lượng gà sống sót đến tuần 20 ở Lô 2 là 81 con (tỷ lệ hao hụt 10%), trong khi Lô 1 chỉ còn 66 con (tỷ lệ hao hụt 26,67%).
- Tình hình mắc bệnh giữa 2 lô: Gà ở Lô 1 mắc 8 nhóm bệnh với tỷ lệ cao hơn rõ rệt qua các lần lặp lại. Ở giai đoạn 0–8 tuần tuổi, Lô 1 có tỷ lệ mắc cầu trùng là 33,33%, E. coli là 23,33%, ký sinh trùng đường máu là 4,44% và CRD là 4,44%; trong khi Lô 2 chỉ mắc cầu trùng (13,33%) và E. coli (3,33%). Ở giai đoạn 9–20 tuần tuổi, Lô 1 tiếp tục mắc 7 loại bệnh gồm giun sán (21,25%), ký sinh trùng đường máu (15,00%), thương hàn (12,50%), CRD (8,75%), viêm ruột hoại tử (7,50%), đầu đen (5,00%) và E. coli (5,00%); ngược lại Lô 2 chỉ ghi nhận tỷ lệ mắc rất thấp ở 4 bệnh: giun sán (4,76%), CRD (3,57%), đầu đen (3,57%) và viêm ruột hoại tử (3,57%), hoàn toàn không phát hiện ca mắc thương hàn và ký sinh trùng đường máu.
- Triệu chứng và bệnh tích đại thể: Khóa luận ghi nhận hình ảnh lâm sàng và mổ khám điển hình của từng loại bệnh: E. coli gây viêm xuất huyết ruột; CRD gây tích tụ dịch đục và viêm dày túi khí; thương hàn gây sưng gan và xuất hiện ổ hoại tử trắng lấm tấm; viêm ruột hoại tử tạo lớp màng giả màu nâu vàng bong tróc; ký sinh trùng đường máu gây xuất huyết cơ tim, gan lách sưng mềm; bệnh đầu đen gây hoại tử hình hoa cúc đặc trưng trên bề mặt gan và hình thành lõi kén trắng đặc trong manh tràng; cầu trùng làm manh tràng sưng to thâm tím chứa đầy máu và phân sô-cô-la.
- Kết quả khảo nghiệm phác đồ điều trị: Tác giả xây dựng 8 phác đồ hóa dược đặc hiệu kết hợp liệu pháp hỗ trợ Sorbitol-B12. Tỷ lệ điều trị khỏi dao động từ 71,43% đến 95,23%. Phác đồ sử dụng Alben-Forte trị giun sán đạt hiệu lực cao nhất (95,23%), Cầu trùng NANO đạt 92,86%, Enro-flox trị thương hàn đạt 90,00%, Ampicoli trị E. coli đạt 89,29%, Five BMD 50% trị viêm ruột hoại tử đạt 88,89%, CRD-Stop trị hen đạt 85,71%, Sulfa-Trimix trị ký sinh trùng máu đạt 85,71%; thấp nhất là Bio-Suldox trị bệnh đầu đen chỉ đạt 71,43% do các cá thể phát hiện muộn đã bị tổn thương gan và manh tràng không hồi phục.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về các chỉ số ấp nở, tăng trọng, tỷ lệ bệnh tật và hiệu lực thuốc; đồng thời kiến nghị người chăn nuôi và các khóa sinh viên kế tiếp chú trọng kiểm soát tiểu khí hậu máy ấp hoặc đầu tư máy ấp đa kỳ hiện đại để nâng cao tỷ lệ nở trên trứng có phôi.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật trên giống gà nhiều cựa bản địa tại Thái Nguyên:
1. Số liệu thực nghiệm tổng hợp
Bảng tổng hợp chỉ tiêu ấp nở trứng gà nhiều cựa (3 đợt ấp):
| Đợt ấp |
Số trứng ấp (quả) |
Tỷ lệ trứng có phôi (%) |
Tỷ lệ nở / trứng có phôi (%) |
Tỷ lệ gà loại I / gà nở (%) |
Tỷ lệ gà loại thải (%) |
| Đợt 1 |
260 |
91,53 |
91,17 |
88,63 |
11,37 |
| Đợt 2 |
260 |
90,38 |
89,36 |
84,76 |
15,24 |
| Đợt 3 |
260 |
88,84 |
87,87 |
87,68 |
12,32 |
| Tính chung |
780 |
90,25 |
89,46 |
87,02 |
12,98 |
Bảng sinh trưởng khối lượng cơ thể gà thí nghiệm qua các tuần tuổi:
| Tuần tuổi |
Lô 1 - Không dùng thuốc (g) |
Cv Lô 1 (%) |
Lô 2 - Có dùng thuốc (g) |
Cv Lô 2 (%) |
Ghi chú |
| 0 |
33,28 ± 0,41 |
3,15 |
32,86 ± 0,24 |
4,26 |
Khối lượng chung trống mái |
| 4 |
180,16 ± 1,64 |
4,57 |
182,81 ± 0,96 |
6,91 |
Khối lượng chung trống mái |
| 8 |
617,44 ± 0,86 |
5,24 |
627,69 ± 0,66 |
6,18 |
Kết thúc ăn tự do |
| 12 |
1024,70 ± 4,63 |
7,78 |
1052,30 ± 3,92 |
8,64 |
Theo dõi riêng gà mái |
| 16 |
1354,30 ± 5,48 |
6,70 |
1363,10 ± 4,81 |
5,61 |
Theo dõi riêng gà mái |
| 20 |
1519,40 ± 1,43 |
3,16 |
1534,50 ± 5,34 |
2,60 |
Kết thúc thí nghiệm |
Bảng hiệu lực điều trị của các phác đồ thử nghiệm:
| Tên bệnh |
Thuốc đặc trị chính |
Số ca mắc |
Điều trị khỏi |
Tỷ lệ khỏi (%) |
Số chết |
Tỷ lệ chết (%) |
| E. coli |
Ampicoli + Sorbitol-B12 |
28 |
25 |
89,29 |
3 |
10,71 |
| CRD |
CRD - Stop + Sorbitol-B12 |
14 |
12 |
85,71 |
2 |
14,29 |
| Thương hàn |
Enro - flox + Sorbitol-B12 |
10 |
9 |
90,00 |
1 |
10,00 |
| Viêm ruột hoại tử |
Five BMD 50% + Sorbitol-B12 |
9 |
8 |
88,89 |
1 |
11,11 |
| KST đường máu |
Sulfa - Trimix + Sorbitol-B12 |
14 |
12 |
85,71 |
2 |
14,29 |
| Đầu đen |
Bio - Suldox + Sorbitol-B12 |
7 |
5 |
71,43 |
2 |
28,57 |
| Giun, sán |
Alben - Forte + Sorbitol-B12 |
21 |
20 |
95,23 |
1 |
4,77 |
| Cầu trùng |
Cầu trùng NANO + Sorbitol-B12 |
42 |
39 |
92,86 |
3 |
7,14 |
2. Giải pháp và khuyến nghị của tác giả
- Thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng dịch, bao gồm sát trùng chuồng bằng một trong các loại hóa chất: Chloramin B 0,2%, Biocid 0,3%, Virkon 0,5%, Iodin 0,3%; quét vôi trắng và để trống chuồng tối thiểu 15 ngày sau mỗi lứa nuôi.
- Chủ động kết hợp lịch vắc-xin chuẩn với việc dùng thuốc phòng thú y định kỳ hợp pháp (thuốc úm pha vitamin/kháng sinh giai đoạn đầu, thuốc tẩy giun sán và kháng cầu trùng định kỳ), giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh từ 2 đến 7 lần và giảm thiểu tỷ lệ chết từ 26,67% xuống 10,00%.
- Cần phát hiện bệnh sớm, đặc biệt đối với bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis (bệnh đầu đen), để điều trị kịp thời bằng Bio-Suldox trước khi gà hình thành kén bã đậu manh tràng và hoại tử gan.
3. Đóng góp khoa học so với các công bố trước
- Bổ sung số liệu thực nghiệm chi tiết về khối lượng cơ thể gà nhiều cựa nuôi nhốt có kiểm soát tại Thái Nguyên: Đạt 1534,5 gam lúc 20 tuần tuổi ở gà mái, cao hơn đáng kể so với mức 1141,94 gam trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Khánh (2019) thực hiện trên cùng giống gà.
- Xác định tỷ lệ phân ly di truyền hình thái cựa trong quá trình ấp nở thực tế: Có khoảng 5% đến 6% gà con nở ra không biểu hiện tính trạng nhiều ngón (chân chỉ có số ngón thông thường như gà bản địa khác), làm cơ sở cho công tác phân loại và chọn giống thuần chủng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với điều kiện bố trí nghiên cứu thực tế:
- Tỷ lệ nở trên trứng có phôi đạt 89,46%, vẫn còn khoảng trống cải thiện do phụ thuộc vào công nghệ của hệ thống máy ấp đơn giản tại trại thực nghiệm (nhiệt độ, ẩm độ và góc đảo trứng chưa tối ưu hoàn toàn ở giai đoạn cuối). Tác giả đề nghị nghiên cứu áp dụng máy ấp đa kỳ thế hệ mới để nâng cao tỷ lệ nở thành công.
- Số lượng gà trống nở ra và phân bố trong các đợt thí nghiệm không đủ lớn, khiến tác giả chỉ theo dõi được khối lượng tích lũy của cả hai giới ở giai đoạn 0–8 tuần tuổi; từ 9–20 tuần tuổi chỉ theo dõi sinh trưởng trên đàn gà mái, chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng tăng trọng của gà trống trưởng thành.
- Hiệu lực điều trị bệnh đầu đen còn thấp (71,43%), nguyên nhân do chẩn đoán chậm khi gà đã chuyển sang giai đoạn mạn tính nặng, đòi hỏi các nghiên cứu tiếp theo cần tìm kiếm các chỉ thị chẩn đoán sớm hoặc tối ưu hóa phác đồ kết hợp thuốc kháng đơn bào với giải độc chuyên sâu.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này có giá trị ứng dụng và tham khảo trực tiếp đối với:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y đang thực hiện các chuyên đề bảo tồn động vật bản địa, kiểm soát dịch bệnh gia cầm hoặc nghiên cứu dược lý thực hành.
- Người chăn nuôi và chủ trang trại gia cầm bản địa: Có thể tham khảo trực tiếp bảng lịch phòng vắc-xin chi tiết (từ 01 ngày tuổi đến 18 tuần tuổi), chế độ cân đối dinh dưỡng theo 4 giai đoạn tuổi, cũng như 8 phác đồ điều trị thực nghiệm có ghi rõ hoạt chất, liều lượng, liệu trình và tỷ lệ khỏi bệnh cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở của giống gà nhiều cựa trong nghiên cứu đạt mức bao nhiêu?
Qua 3 đợt ấp tổng số 780 quả trứng, tỷ lệ trứng có phôi đạt bình quân 90,25% (dao động từ 88,84% đến 91,53%). Tỷ lệ gà nở trên tổng số trứng có phôi đạt 89,46% (630 con). Trong số gà nở ra, tỷ lệ gà con đạt tiêu chuẩn loại I đạt 87,02% (544 con), tỷ lệ loại thải là 12,98% (bao gồm 5–6% số con không mang đặc điểm nhiều ngón ở chân hoặc bị dị tật hở rốn, khoèo chân).
2. Việc sử dụng thuốc phòng bệnh thú y đã tác động như thế nào đến tỷ lệ sống và khối lượng gà ở 20 tuần tuổi?
Ở lô 2 (có dùng thuốc phòng bệnh), số lượng cá thể sống sót đến 20 tuần tuổi là 81 con trên tổng số 90 con ban đầu (tỷ lệ hao hụt chỉ 10,00%), khối lượng bình quân gà mái đạt 1534,50 ± 5,34 gam. Ở lô 1 (không dùng thuốc phòng bệnh), số gà sống sót chỉ còn 66 con (tỷ lệ hao hụt lên tới 26,67%), khối lượng bình quân gà mái chỉ đạt 1519,40 ± 1,43 gam.
3. Cơ cấu bệnh mắc phải giữa đàn gà có dùng thuốc phòng và không dùng thuốc phòng khác nhau ra sao?
Ở đàn không dùng thuốc phòng (Lô 1), gà mắc 8 loại bệnh gồm cầu trùng, E. coli, CRD, ký sinh trùng máu, thương hàn, đầu đen, giun sán và viêm ruột hoại tử với tỷ lệ mắc ở từng đợt lên tới 10% – 33,33%. Ở đàn có dùng thuốc phòng (Lô 2), gà chỉ mắc 4 loại bệnh ở mức độ nhẹ (cầu trùng, E. coli, CRD, đầu đen, giun sán, viêm ruột hoại tử) với tỷ lệ mắc thấp hơn nhiều (từ 3,33% đến 13,33%), hoàn toàn không phát hiện ca mắc bệnh ký sinh trùng đường máu và thương hàn.
4. Trong các phác đồ điều trị được thử nghiệm, phác đồ nào đạt hiệu lực cao nhất và thấp nhất?
Phác đồ đạt tỷ lệ khỏi bệnh cao nhất là phác đồ điều trị bệnh giun sán sử dụng Alben-Forte kết hợp Sorbitol-B12 với tỷ lệ khỏi 95,23% (20/21 cá thể). Phác đồ có hiệu lực thấp nhất là điều trị bệnh đầu đen bằng Bio-Suldox kết hợp Sorbitol-B12 chỉ đạt 71,43% (5/7 cá thể khỏi bệnh, 2 cá thể chết do gan và manh tràng đã bị hoại tử nặng).
5. Thành phần hoạt chất và cách dùng thuốc điều trị bệnh cầu trùng cho gà thí nghiệm là gì?
Phác đồ sử dụng chế phẩm Cầu trùng NANO (chứa hai hoạt chất chính là Sulfaguanidine và Sulfadimidine) phối hợp với Sorbitol-B12. Liều dùng: Cầu trùng NANO pha 2g/lít nước cho uống liên tục 5 ngày, sau đó giảm một nửa liều trong 3 ngày tiếp theo; kết hợp Sorbitol-B12 liều 2g/lít nước uống trong 5 ngày. Phác đồ này điều trị khỏi 39 trên tổng số 42 cá thể mắc bệnh, đạt hiệu lực 92,86%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Thị Bích Ngọc đã hoàn thành các mục tiêu khoa học thực nghiệm trong việc xác định các chỉ số sinh sản ấp nở, động thái tăng trọng và tình hình dịch bệnh của đàn gà nhiều cựa từ 0 đến 20 tuần tuổi tại Thái Nguyên. Kết quả khẳng định việc kết hợp lịch tiêm phòng vắc-xin đầy đủ với quy trình can thiệp thuốc thú y phòng bệnh định kỳ giúp kiểm soát hiệu quả các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng, hạ thấp tỷ lệ hao hụt đàn từ 26,67% xuống 10,00% và cải thiện khối lượng xuất chuồng của gà mái ở 20 tuần tuổi đạt 1534,50 gam. Hệ thống 8 phác đồ điều trị hóa dược phối hợp thảo dược/trợ lực gan thận được kiểm chứng thực tế đạt hiệu quả điều trị chung từ 71,43% đến 95,23%, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển đàn gà nhiều cựa bản địa theo quy mô trang trại an toàn sinh học.