Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chính phủ tại việt nam

Luận văn thạc sĩ phân tích ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chính phủ tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chính sách thuế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2018

70
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng/phạm vi nghiên cứu

1.4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

1.5. Bố cục của bài nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

2.1. Tổng quan về lý thuyết

2.2. Lý thuyết định hướng về phía người dân

2.3. Lý thuyết dựa trên chính phủ

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM

3.1. Thuế giá trị gia tăng

3.2. Quy mô chính phủ

3.3. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Dữ liệu và các biến

4.2. Mô hình nghiên cứu

4.3. Phương pháp nghiên cứu

4.4. Kết quả nghiên cứu

4.4.1. Kiểm định tính dừng

4.4.2. Kiểm định đường bao (Bound test)

4.4.3. Ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình

4.4.4. Ước lượng các hệ số ngắn hạn của mô hình

4.4.5. Kiểm định mô hình

4.4.5.1. Kiểm định tự tương quan bậc 1
4.4.5.2. Kiểm định tự tương quan bậc cao
4.4.5.3. Kiểm định phương sai thay đổi
4.4.5.4. Kiểm định đa cộng tuyến
4.4.5.5. Kiểm định tính ổn định phần dư

4.5. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.2. Kết luận chương 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của thuế VAT đến quy mô chính phủ Việt Nam

Thuế giá trị gia tăng (VAT) là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước tại Việt Nam. Từ khi được áp dụng vào năm 1999, thuế VAT đã đóng góp một phần lớn vào ngân sách nhà nước, chiếm khoảng 25% tổng thu ngân sách. Điều này cho thấy vai trò của thuế VAT trong việc tài trợ cho các hoạt động của chính phủ. Nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của thuế VAT đến quy mô chính phủ, từ đó đưa ra những nhận định về mối quan hệ giữa thuế và chi tiêu công.

1.1. Khái niệm và vai trò của thuế VAT trong ngân sách nhà nước

Thuế VAT là loại thuế gián thu đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ. Nó được tính trên giá trị bán hàng và được thu từ người tiêu dùng cuối cùng. Vai trò của thuế VAT không chỉ nằm ở việc tạo ra nguồn thu cho ngân sách mà còn giúp điều tiết tiêu dùng và khuyến khích sản xuất.

1.2. Tình hình thu ngân sách từ thuế VAT tại Việt Nam

Theo số liệu thống kê, thuế VAT đã chiếm khoảng 1/3 tổng số thu thuế tại Việt Nam. Sự gia tăng thuế VAT trong những năm qua đã giúp chính phủ có thêm nguồn lực để đầu tư vào các lĩnh vực như giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng.

II. Vấn đề và thách thức liên quan đến thuế VAT và quy mô chính phủ

Mặc dù thuế VAT đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Việc tăng thuế VAT có thể gây ra áp lực lên người tiêu dùng và doanh nghiệp, dẫn đến những phản ứng tiêu cực trong xã hội. Hơn nữa, việc quản lý và thu thuế VAT cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế phi chính thức phát triển mạnh mẽ.

2.1. Tác động tiêu cực của việc tăng thuế VAT

Việc tăng thuế VAT có thể làm giảm sức mua của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến tiêu dùng và đầu tư. Điều này có thể dẫn đến sự chậm lại trong tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang phục hồi sau khủng hoảng.

2.2. Khó khăn trong quản lý thuế VAT

Quản lý thuế VAT tại Việt Nam gặp nhiều thách thức, bao gồm việc thiếu minh bạch trong quy trình thu thuế và sự tham gia của nền kinh tế phi chính thức. Điều này làm giảm hiệu quả thu ngân sách từ thuế VAT.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của thuế VAT đến quy mô chính phủ

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đánh giá tác động của thuế VAT đến quy mô chính phủ. Mô hình ARDL sẽ được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa thuế VAT và chi tiêu công. Dữ liệu sẽ được thu thập từ các nguồn chính thức như Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

3.1. Mô hình nghiên cứu và các biến số

Mô hình nghiên cứu sẽ bao gồm các biến như tỷ lệ chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư phát triển của chính phủ trên GDP. Các biến này sẽ được phân tích để xác định mối quan hệ với thuế VAT.

3.2. Phương pháp phân tích ARDL

Phương pháp ARDL sẽ được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ dài hạn giữa thuế VAT và quy mô chính phủ. Các bước kiểm định sẽ bao gồm kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định Bound để xác định tính ổn định của mô hình.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của thuế VAT đến quy mô chính phủ

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thuế VAT và quy mô chính phủ. Sự gia tăng thuế VAT dẫn đến tăng trưởng chi tiêu công, đặc biệt là trong các lĩnh vực như giáo dục và y tế. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng việc tăng thuế VAT cần được thực hiện một cách thận trọng để tránh gây áp lực lên người tiêu dùng.

4.1. Tác động đến chi tiêu thường xuyên của chính phủ

Nghiên cứu cho thấy rằng thuế VAT có tác động tích cực đến chi tiêu thường xuyên của chính phủ, giúp tăng cường các dịch vụ công và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

4.2. Tác động đến chi đầu tư phát triển

Sự gia tăng thuế VAT cũng góp phần vào việc tăng cường chi đầu tư phát triển, từ đó thúc đẩy sự phát triển hạ tầng và các dự án lớn của chính phủ.

V. Kết luận và khuyến nghị cho chính sách thuế VAT tại Việt Nam

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy thuế VAT đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho quy mô chính phủ tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần có những điều chỉnh hợp lý trong chính sách thuế để đảm bảo sự phát triển bền vững. Các khuyến nghị bao gồm việc cải cách hệ thống thuế, tăng cường quản lý thuế và nâng cao nhận thức của người dân về thuế VAT.

5.1. Đề xuất cải cách chính sách thuế VAT

Cần xem xét việc điều chỉnh mức thuế VAT để phù hợp với tình hình kinh tế và nhu cầu của người dân. Việc này sẽ giúp tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà không gây áp lực quá lớn lên người tiêu dùng.

5.2. Tăng cường quản lý và minh bạch trong thu thuế

Cải thiện quy trình quản lý thuế VAT, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc thu thuế. Điều này sẽ giúp tăng cường lòng tin của người dân vào chính sách thuế và nâng cao hiệu quả thu ngân sách.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chính phủ tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương này trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và giới thiệu bố cục bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích Chương này trình bày các lý thuyết về quan điểm quy mô của chính phủ. Bên cạnh đó, chương này cũng cung cấp những thông tin về những nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau của các tác giả đối với cùng một chủ đề. Đây là cơ sở lý luận quan trọng trong việc tiến hành thực hiện đề tài này tại Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng về thuế giá trị gia tăng và quy mô chính phủ tại Việt Nam Chương này trình bày tình hình thu và chi ngân sách của Việt Nam giai đoạn từ năm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong đó tập trung phân tích vai trò của thuế giá trị gia tăng, cơ cấu thu ngân sách nhà nước, cơ cấu chi ngân sách bao gồm thường xuyên và chi đầu tư phát triển trong tỷ trọng với GDP. Chương 4: Dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Chương này trình bày chi tiết nguồn gốc của dữ liệu và cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu, nêu rõ các biến số được sử dụng trong bài nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu để phân tích ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chính phủ qua chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên ở Việt Nam bằng cách áp dụng phương pháp ARDL. Phần cuối của chương, trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu cũng như một số thảo luận từ các kết quả thu được.

Chương 5: Kết luận Chương này tóm tắt lại các kết quả nghiên cứu của đề tài, rút ra kết luận, các hạn chế của bài nghiên cứu và mở rộng hướng nghiên cứu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích 2.1 Tổng quan về lý thuyết: 2.1 Lý thuyết định hướng về phía người dân: Lý thuyết này dựa trên quan điểm cho rằng quy mô của chính phủ dựa trên nhu cầu của người dân. Một trong những lý thuyết về sự phát triển của chính phủ lâu đời nhất là lý thuyết Wagner. Dựa trên số liệu chi tiêu của một vài nước phát triển, ông đưa ra quan điểm rằng khu vực công ngày càng có đóng góp to lớn vào GDP.

Đầu tiên ông nhận thấy kinh tế muốn phát triển đòi hỏi cơ sở hạ tầng phải phát triển phù hợp theo, bao gồm các mối quan hệ xã hội, thương mại, pháp lý trong nền kinh tế đó. Thứ hai, muốn xã hội phát triển thì hỏi phải có sự gia tăng chi tiêu của chính phủ để thiết lập và tổ chức giải quyết các mối quan hệ phức tạp nảy sinh khi kinh tế phát triển. Thứ ba, hàng hóa công có sự hấp dẫn về doanh thu cao. Cuối cùng, ông đưa ra kết luận rằng khu vực công sẽ trở nên lớn mạnh hơn một khi mức sống người dân được nâng lên, khi mà kinh tế và xã hội đều phát triển.

Theo đạo luật Wagner, khu vực nhà nước có khuynh hướng mở rộng nhanh hơn sự phát triển của nền kinh tế, hay nói cách khác, sự tăng trưởng của khu vực nhà nước có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tỷ lệ chi tiêu công trên GDP. Mặc dù lý thuyết Wagner giải thích sự phát triển của chính phủ một cách đúng đắn, nhưng nó vẫn còn mặt hạn chế là chỉ đơn thuần dựa vào độ lớn của nhu cầu mà bỏ qua khía cạnh của nguồn cung. Chính phủ với tư cách như một yếu tố phân phối công bằng: theo như vài lý thuyết, chính phủ chỉ chủ yếu tập trung vào việc phân phối tài sản và thu nhập một cách công bằng. Những lý thuyết này nói rằng số đông ưa thích đánh thuế cao cho những cá nhân thu nhập cao và chuyển trả cho những cá nhân thu nhập thấp.

Vì những công dân có thu nhập trung bình và thu nhập thấp chiếm phần lớn trong xã hội nên việc đáp ứng được nhu cầu của số đông đòi hỏi sự phát triển của chính phủ. Vì thế, một mặt với mức thuế cao hơn, mặt khác sự gia tăng chi tiêu công gây ra sự giảm sút của sản xuất trong nước và gia tăng tỉ lệ chi tiêu của chính phủ cho sản xuất mà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 m i tỉ lệ đó phản ánh sự phát triển của chính phủ. Hai nhà lý thuyết nổi tiếng trong lý luận này là Meltzer và Richard (1983). Theo Meltzer và Richard (1983), thước đo về quy mô của Chính phủ được đo lường qua là tỷ lệ thu nhập được phân phối lại bởi chính phủ, bao gồm tiền mặt và dịch vụ.

Khác với các lý thuyết trước, Meltzer và Richard cho rằng người dân không bị "ảo tưởng về ngân sách". Người dân biết Chính phủ phải sử dụng nguồn lực để chi trả cho tái phân phối. Thêm nữa, tác giả tập trung vào nhu cầu phân phối lại và bỏ qua các hàng hoá công cộng do Chính phủ cung cấp (Peltzman 1979). Cuối cùng, cùng xu hướng với kết luận của Tocqueville (1835, 1965), tác giả đo lường quy mô của chính phủ bằng thuế và chi tiêu, với hai yếu tố: sự mở rộng của nhượng quyền thương mại và sự phân phối thu nhập.

Meltzer cho rằng quy mô của chính phủ chịu tác động của thu nhập của tầng lớp trung bình với thu nhập của đại cử tri. Với quyền bầu cử phổ thông và đa số, đại cử tri nắm yếu tố quyết định như Roberts (1977) đã đề cập trong tác phẩm nổi tiếng của Hotelling (1929) và Downs (1957). Các nghiên cứu về phân phối thu nhập cho thấy sự phân phối bị lệch. Những cử tri có thu nhập thấp hơn thu nhập trung bình sẽ ủng hộ việc tái phân phối lại thu nhập qua một thuế suất cao hơn, nhằm để đảm bảo cân bằng và làm tăng chi tiêu cho khu vực công.2 Lý thuyết dựa trên chính phủ: Lý thuyết này tập trung vào sự ưa thích của chính phủ hơn là của người dân.” Lý thuyết ảo tưởng tài chính (lý thuyết lựa chọn công): theo như lý thuyết ảo tưởng tài chính thì tại những quốc gia không có hệ thống thuế chuẩn mực, trong sạch và thiếu những chủ trương đúng đắn để tìm nguồn tài trợ cho những dịch vụ công thì các nhà cầm quyền lừa bịp người dân về quy mô của chính phủ.

Theo đó, chính phủ thực ra có quy mô rất lớn nhưng những nhà cầm quyền lại làm như nó rất bé. Vì vậy, theo lý thuyết này chi tiêu thực của chính phủ bị giấu diếm bởi các nhà cầm quyền nhằm tạo thêm lý do và cơ hội cho sự phát triển của khu vực công. Một cách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 để giả vờ nữa là thuế gián tiếp và những nguồn thu từ tài nguyên như dầu thô, khoáng sản. Theo lý thuyết ảo tưởng tài chính, người dân đo lường quy mô của chính phủ thông qua số thuế phải trả.

Do đó, việc đóng thuế của người dân càng ít rõ ràng thì càng có khả năng được áp dụng bởi chính phủ. Vì vậy, người ta cho rằng chính phủ với sự gia tăng tối đa quy mô khu vực công sẽ là chính phủ ngày càng dựa vào thuế gián thu và sự đóng góp của bảo hiểm xã hội. Lý thuyết lựa chọn công cộng là một ngành kinh tế phát triển từ nghiên cứu về thuế và chi tiêu công. James Buchaman (1967) được xem là người tiên phong trong lý thuyết này là người đã xây dựng khái niệm ảo tưởng tài chính trong quy mô chính phủ.

Trong khi có nhiều nhà kinh tế đã đưa ra quan điểm ủng hộ “bàn tay hữu hình”, cho rằng cách để kìm hãm “thất bại trên thị trường” như độc quyền là nâng cao vai trò của chính phủ thì ở một quan điểm khác, các nhà kinh tế về lựa chọn công chỉ ra rằng cũng có “thất bại của chính phủ”. Điều đó lý giải tại sao, nhiều khi sự can thiệp của chính phủ không mang lại những hiệu quả như kỳ vọng. James Buchanan đã tập trung vào cấu trúc chính phủ để phân tích sự thất bại trên góc độ con người kinh tế. Theo đó, các chính trị gia thể hiện hành vi con người kinh tế khi bảo vệ lợi ích kinh tế, lợi ích nhóm của họ hơn là lợi ích vì lý tưởng chính trị bằng cách tác động vào các chính sách, ban hành các đạo luật.

Phân tích sự lựa chọn công, các nhà kinh tế sử dụng cùng nguyên tắc mà sử dụng để phân tích hành động của con người trên thị trường và áp dụng chúng vào hành động của con người trong việc ra quyết định tập thể. Các nhà kinh tế học nghiên cứu hành vi trên thị trường tư nhân cho rằng con người, dù thuộc tầng lớp nào của xã hội, thuộc thành phần kinh tế nào từ người giàu, người nghèo, người lao động hay người sử dụng lao động, nhà sản xuất hay người tiêu dùng đều tập trung vào lợi của bản thân họ trước. Các nhà kinh tế học về sự lựa chọn công cũng đưa ra giả thuyết tương tự - mặc dù những người hoạt động chính trị có một số mối quan tâm và suy nghĩ cho lợi ích chung của mọi người, tuy nhiên, động cơ chính của họ, dù là cử tri, chính trị gia, vận động hành lang, hay quan chức, đều là lợi ích cá nhân. Mặc dù các nhà lập pháp dự kiến sẽ theo đuổi “lợi ích công cộng”, tuy nhiên họ đưa ra các công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 cụ, chính sách đều dựa trên việc quyết định sử dụng các nguồn lực bên ngoài như thế nào chứ không phải là của riêng họ.

Vì vậy, vấn đề cốt lõi là các chính trị gia có rất ít các động cơ để quản lý tốt nguồn vốn nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng, từ đó dẫn đến đầu tư công không hiệu quả. Điều này có thể thấy rõ thông qua việc các nhà lập pháp sử dụng nguồn vốn từ thuế để theo đuổi lợi ích công cộng. Trong trường hợp này, các nhà lập pháp có quyền lựa chọn các quyết định không ngoan để sử dụng tiền thuế hiệu quả. Tuy nhiên, các quyết định hiệu quả không mang lại nhiều lợi ích cho chính họ mà người hưởng lợi ở đây là công dân.

Ngoài các chính trị gia, lý thuyết lựa chọn công còn phân tích vai trò của các quan chức trong chính phủ. Những đặc quyền của họ giải thích tại sao nhiều cơ quan quản lý dường như bị "bắt" bởi các quyền lợi đặc biệt. Việc bắt giữ xảy ra vì các quan chức không có mục đích lợi nhuận để hướng dẫn hành vi của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ