ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA -------------------- VŨ THỊ THANH PHƢƠNG EFFECT OF MARKET SETTING AND TIME OF PURCHASE ON QUALITY OF BEEF IN VIETNAM Chuyên ngành: Công nghệ Thực phẩm Mã số: 60 54 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 12 năm 2015 CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA - ĐHQG - HCM Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoàng Dũng Cán bộ chấm nhận xét 1: TS. Hoàng Kim Anh Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Nguyễn Bá Thanh Luận văn thạc sĩ đƣợc bảo vệ tại Trƣờng Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp.
HCM ngày 05 tháng 01 năm 2016 Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: 1. GS TSKH Lƣu Duẩn 2. Hoàng Kim Anh 3. TS Nguyễn Bá Thanh 4.
TS Phan Ngọc Hòa 5. TS Trần Thị Ngọc Yên Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trƣởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã đƣợc sửa chữa (nếu có). CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƢỞNG KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ------------------------ ----------------------------------- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: Vũ Thị Thanh Phƣơng MSHV: 13111024 Ngày sinh: 18/08/1987 Nơi sinh: Tp Hồ Chí Minh Chuyên ngành: Công nghệ Thực Phẩm Mã số: 60540101 I.
Tên đề tài EFFECT OF MARKET SETTING AND TIME OF PURCHASE ON QUALITY OF BEEF IN VIETNAM II. Nhiệm vụ và nội dung Nhiệm vụ: Đánh giá ảnh hƣởng của ba loại hình chợ (siêu thị, chợ có mái che, chợ không mái che) và hai thời điểm mua mẫu lên chất lƣợng thịt bò. Nội dung Khảo sát ảnh hƣởng của loại chợ và thời gian bày bán lên mùi lỗi và vị lỗi của thịt bò. Khảo sát ảnh hƣởng của loại chợ và thời gian lên hoạt tính chống oxy hóa và sản phẩm bậc hai của quá trình oxy hóa chất béo của thịt bò.
Khảo sát ảnh hƣởng của loại chợ và thời gian lên số lƣợng vi khuẩn hiếu khí, E.coli và coliforms phát triển trên bề mặt thịt bò. Ngày giao nhiệm vụ: 19/01/2015 IV. Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 20/12/2015 V. Cán bộ hƣớng dẫn: PGS.
TS Nguyễn Hoàng Dũng Tp. Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 12 năm 2015 Cán bộ hƣớng dẫn Chủ nhiệm bộ môn Trƣởng khoa Kỹ Thuật Hóa Học LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Hoàng Dũng. Thầy đã luôn định hƣớng, giúp đỡ, động viên em hoàn thành luận văn đúng hạn. Con xin cảm ơn đến bố mẹ, ngƣời đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi cảm ơn các Anh/Chị/Em trong phòng thí nghiệm cảm quan luôn ủng hộ, động viên, góp ý để hoàn thành luận văn của tôi. Chị cảm ơn các em sinh viên trƣờng Đại học Công Nghiệp đã tham gia nhiệt tình trong hội đồng cảm quan. Đặc biệt, cảm ơn em Cao Hoàng Bảo Trân và em Tăng Nguyên Minh đã hỗ trợ, giúp đỡ, cũng nhƣ động viên nhiệt tình trong thời gian thực hiện luận văn. Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 12 năm 2015 Sinh viên thực hiện VŨ THỊ THANH PHƢƠNG i TÓM TẮT LUẬN VĂN Chất lƣợng thịt bò tƣơi đƣợc quyết định bởi nhiều yếu tố.
Sự oxy hóa đƣợc xem là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đáng kể đến chất lƣợng thịt, đặc biệt là sự oxy hóa chất béo. Nhiều hợp chất thứ cấp đƣợc tạo ra từ quá trình oxy hóa chất béo dẫn đến sự hình thành mùi và vị lỗi của thịt nhƣ: mùi ôi dầu, mùi cỏ, mùi carton, mùi gan, vị chua. Ngoài ra, chất lƣợng thịt còn bị ảnh hƣởng bởi số lƣợng vi khuẩn hiếu khí hình thành trên bề mặt thịt. Những vi sinh vật này phát triển trên bề mặt thịt làm độ nhớt, màu sắc của thịt bị biến đổi.
Tuy nhiên, thịt tƣơi tồn tại nhiều chất chống oxy hóa nội tại, bao gồm vitamin A, E, và các enzyme chống oxy hóa có hoạt tính chống oxy hóa (TAC). Những hợp chất này đóng vài trò quan trọng trong sự ngăn chặn sự oxy hóa chất béo trong thịt. Do đó, chất lƣợng thịt đƣợc đánh giá dựa trên các chỉ tiêu sau: mùi mỗi, vị lỗi, chỉ số hóa lý, và tổng số vi sinh vật hiếu khí. Sự oxy hóa chất béo và sự phát triển của vi sinh vật hiếu khí trên bề mặt thịt bò bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố bên ngoài nhƣ điều kiện môi trƣờng (nhiệt độ, ánh sáng mặt trời, độ ẩm, và nồng độ oxy) và thời gian thịt đƣợc bày bán trên thị trƣờng.
Nghiên cứu này khảo sát điều kiện môi trƣờng thông qua ba loại hình chợ gồm siêu thị (SM), chợ có mái che (IM), và chợ không có mái che (OM). Đối với thời gian bày bán, thịt bò đƣợc mua tại hai thời điểm, thời điểm 1 là thời gian mở cửa chợ (T0) và thời điểm 2 là thời điểm cách thời điểm 1 bốn tiếng (T4). Mục đích của nghiên cứu bao gồm: 1) khảo sát ảnh hƣởng của ba loại hình chợ và 2 thời điểm mua thịt lên mùi và vị lỗi trong thịt bò, 2) khảo sát ảnh hƣởng của hai yếu tố trên lênsự oxy hóa chất béo dựa trên hoạt tính chống oxy hóa tổng và sản phẩm bậc hai của quá trình oxy hóa, và 3) khảo sát tổng số lƣợng vi khuẩn hiếu khí phát triển trên bề mặt thịt ảnh hƣởng bởi hai yếu tố trên. Mẫu thịt thăn bò đƣợc mua từ ba thành phố của Việt nam gồm Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, và Hà Nội.
Các mẫu để kiểm tra vi sinh đƣợc đặt trong túi vô trùng Whirl-Pak. Các mẫu để kiểm tra hóa lý và cảm quan đƣợc đặt trong túi có khóa kéo. Tất cả mẫu đƣợc bảo quản trong thùng đá (Igloo, Katy, TX) có túi đá khô để giữ lạnh và đƣợc vận chuyển về trƣờng đại học Bách khoa. ii Hội đồng mô tả đã thống nhất đƣợc ba mùi lỗi và hai vị lỗi bao gồm mùi gan (liveryR), mùi chua (sourR), mùi ngọt (sweetR), vị chua (sourC), và vị gan (liveryC).
Loại chợ ảnh hƣởng có nghĩa lên thuộc tính liveryR (P ≤ 0. Giá trị liveryR của mẫu thịt bò mua tại IM cao hơn khi mua tại OM (P = 0. Trong khi đó, giá trị liveryR mua ở SM không khác biệt có nghĩa so với OM và IM (P = 0. Giá trị sourR và liveryC của mẫu thịt mua tại thời điểm T0 thấp hơn tại thời điểm T4 (P = 0.
Ảnh hƣởng của loại chợ và thời gian lên thuộc tính sweetR và sourC là tƣợng tự nhau (P ≥ 0. Nhìn chung, loại chợ và thời gian bày bán có ảnh hƣởng lên thuộc tính cảm quan mùi và vị lỗi của thịt bò. Phƣơng pháp FC (Folin-Ciocalteu), phƣơng pháp TEAC (trolox equivalent antioxidant capacity), và phƣơng pháp FRAP (ferric reducing antioxidant power) đƣợc sử dụng rộng rãi để xác định hoạt tính chất chống oxy hóa của các chất chống oxy hóa nội tại có trong thịt. Cả hai phƣơng pháp FC và TEAC đều thể hiện ảnh hƣởng của loại chợ lên hoạt tính chống oxy hóa của thịt (P ≤ 0.
Trong đó, hoạt tính chống oxy hóa của thịt mua tại OM cao nhất so với hai chợ còn lại (P < 0. Hơn thế nữa, phƣơng pháp FC còn chứng minh đƣợc rằng thời gian bày bán ảnh hƣởng có nghĩa lên hoạt tính chống oxy hóa (P ≤ 0.05), cụ thể tại thời điểm T4 hoạt tính chống oxy hóa có giá trị cao hơn so với thời điểm T0 (P = 0. Ngƣợc lại, phƣơng pháp FRAP không chứng minh đƣợc ảnh hƣởng của loại chợ và thời gian lên hoạt tính chống oxy hóa của thịt. Ngoài việc xác định hoạt tính chống oxy hóa của thịt, nghiên cứu này còn xác định sản phẩm bậc hai của quá trình oxy hóa chất béo bằng phƣơng pháp TBARS (thiobarbituric acid reactive substances).
Giá trị TBARS của mẫu thịt mua tại SM là cao nhất so với IM và OM (P = 0. Do đó, loại chợ và thời gian cũng có ảnh hƣởng có nghĩa lên sự oxy hóa của thịt thông qua hai chỉ số: hoạt tính chống oxy hóa và sản phẩm bậc hai của quá trình oxy hóa. Mặt khác, nghiên cứu này xác định ảnh hƣởng của loại chợ và thời gian lên số lƣợng vi sinh vật hiếu khí (vi khuẩn hiếu khí (APC), E.coli, và Coliforms) phát triển trên bề mặt thịt. Kết quả cho thấy loại chợ và thời gian bày bán ảnh hƣởng có nghĩa lên số lƣợng vi khuẩn hiếu khí (P = 0.
Số lƣợng coliforms bị ảnh hƣởng bởi loại chợ (P = 0. Loại chợ và thời gian không ảnh hƣởng lên số iii lƣợng của E. Tuy nhiên, có sự tƣơng tác giữa loại chợ và thời gian có ý nghĩa thống kê (P = 0. Nhìn chung, loại chợ và thời gian bày bán có ảnh hƣởng có nghĩa lên sự oxy hóa chất béo của thịt thông qua những biến đổi của các thuộc tính cảm quan, chỉ số hoạt tính chống oxy hóa và chỉ số TBARS.
Thêm vào đó, số lƣợng vi khuẩn hiếu khí và coliforms cũng bị ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê bởi hai yếu tố loại chợ và thời gian. iv ABSTRACT Lipid oxidation is one the most important factors that can affect in quality of fresh beef meat during postmortem period. Many secondary compounds formed by lipid oxidation can cause off-odor and off-flavor production in meat. Besides, the meat quality also affected by the aerobic microorganisms formed on surface of meat during storage.
However, fresh meat subsists several intrinsic antioxidants, including tocopherol, carotene, and antioxidants enzymes with their total antioxidant capacities (TACs). These compounds play a role to prevent influences of lipid oxidation in meat. The oxidative changes in beef meat depend on environmental conditions (e. temperature, sunlight, moisture, and oxygen) and display time of meat.
The beef quality is evaluated based on off-odors, off-flavors, physicochemical indicators, and microbial indicators. This study examined the environmental conditions through three market types, including supermarkets (SM), indoor markets (IM), and open markets (OM). For examining display time, the beef was purchased at two sampling times at each market. The opening time (T0) was the opening of individual markets, and the closing time (T4) was 4 h after opening.
The objectives of this study were: 1) to exam the effect of three market types and two sampling times on off-odors/off-flavors in beef in Vietnam; 2) to exam the effect of two above factors on the lipid oxidation through two indicators known as total antioxidant capacities and secondary products of oxidation; and 3) to evaluate the counts of aerobic bacteria quantity grown on meat surface affected by different market types and sampling times. Longissimus muscle beef samples were purchased from three areas, including Ho Chi Minh City, Da Nang, and Ha Noi reached adequate representation of Vietnam. The samples were placed separately in sterile Whirl-Pak® bags (Nasco, Fort Atkinson, WI) for microbial test and placed in zip bags for the sensory and physicochemical tests.