ĐẶT VẤN ĐỀ Khớp cắn chức năng có vai trò quan trọng trong các hoạt động chức năng ăn nhai của con người, là một trong ba thành phần cấu tạo nên bộ máy nhai. Khớp cắn có các chức năng như là nhai, nói, nuốt. Vấn đề tiếp xúc giữa các răng của hai cung hàm là chìa khóa đảm bảo cho hoạt động ổn định của hệ thống nhai [1]. Ngoài ra cung răng còn là yếu tố tạo nên thẩm mỹ cho khuôn mặt.
Một cung răng đẹp kết hợp hài hòa với các yếu tố mô mềm góp phần mang lại nụ cười đẹp và tự tin cho người sở hữu, thông qua đó khớp cắn có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người đó. Khái niệm "chất lượng cuộc sống" theo WHO là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ hạnh phúc và khoẻ mạnh hoàn toàn về thể chất, tâm thần, và xã hội. Trong y học, khái niệm này được cụ thể hóa thành "chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe". Như vậy sức khỏe không chỉ được đánh giá dưới góc độ y khoa thuần túy mà còn dưới góc độ tâm lý, xã hội.
Mối quan hệ giữa sức khỏe và chất lượng cuộc sống đã và đang được nghiên cứu ngày càng đầy đủ trong nhiều lĩnh vực liên quan đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Một hàm răng lệch lạc có thể ảnh hưởng đến thẩm mỹ, chức năng qua đó làm ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày, tình trạng sức khỏe nói riêng và chất lượng cuộc sống nói chung. Người Việt có tỉ lệ sai khớp cắn khá cao. Theo điều tra của nhiều tác giả cho thấy tỷ lệ bị lệch lạc khớp cắn trong cộng đồng người Việt là rất lớn, chiếm từ 80 đến trên 91.
Ảnh hưởng của sai khớp cắn đối với chất lượng cuộc sống thông qua các vấn đề chức năng, ngoại hình và mối quan hệ giữa các cá nhân, tất cả chỉ ra tầm quan trọng của việc đánh giá tác động và mối liên quan giữa chúng. Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về tình trạng lệch lạc khớp cắn, nhu cầu điều trị sai khớp cắn với chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên ở Việt Nam đang có khá ít nghiên cứu về lĩnh vực này. Do đó, mục đích chúng tôi đưa ra nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về thực trạng sai khớp cắn và tác động xã hội của sai khớp cắn đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Việt trưởng thành.
2 Xuất phát từ những mục đích đó, chúng tôi chọn đề tài: ―Ảnh hưởng của sai khớp cắn lên chất lượng cuộc sống của người Việt độ tuổi 18-25” với hai mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng sai khớp cắn của sinh viên đại học Quốc Gia Hà Nội độ tuổi 18-25. Phân tích ảnh hưởng của sai khớp cắn đến chất lượng cuộc sống của nhóm đối tượng trên. Khái niệm và đặc điểm sai khớp cắn 1.
Phân loại sai khớp cắn theo Angle Vào thập niên 1900, Edward H. Angle (1855-1930) đã đưa ra phân loại khớp cắn. Đây là một cách phân loại đầu tiên và rất phổ biến cho đến ngày nay. Ông dựa vào răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất (răng số 6) để phân loại khớp cắn thành 4 loại.
Phân loại theo Angle: Có 4 nhóm Khớp cắn bình thường Hình 1. Khớp cắn bình thường [3] Đỉnh núm ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất trên khớp với rãnh giữa ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Các răng sắp xếp theo đường cắn. Sai khớp cắn loại I Hình 1.
Sai khớp cắn loại I [3] Núm ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, nhưng đường cắn khớp không đúng do các răng trước mọc sai chỗ, răng xoay hoặc do những nguyên nhân khác. Sai khớp cắn loại II Hình 1. Sai khớp cắn loại II [3] 4 Múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiến về phía gần so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới (một bên hoặc 2 bên). Sai khớp cắn loại III : Hình 1.
Sai khớp cắn loại III [3] Múi ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp về phía xa so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới, cắn ngược vùng răng cửa. Sai khớp cắn hỗn hợp: Tương quan khớp cắn tại răng hàm lớn thứ nhất ở hai bên cung răng bên phải và bên trái khác nhau.Ví dụ như bên có thể hạng II, một bên hạng III. Hình dạng và kích thước cung răng 1. Hình dạng cung răng Nhìn từ phía mặt nhai các răng được sắp xếp thành một cung (cung răng).
Vì cấu trúc hình cung được xem là sự sắp xếp tạo nên tính ổn định và vững chắc. Một bộ răng vĩnh viễn đầy đủ gồm 32 chiếc, chia đều cho 2 cung răng: cung răng trên và cung răng dưới. Do răng hàm lớn thứ 3 thường có hoặc không (không có mầm răng), khái niệm về bộ răng gồm 28 chiếc được sử dụng trên lâm sàng. Năm 1920, Williams [4] đã nêu lên sự đồng dạng giữa hình dạng của răng cửa và hình dạng của cung răng.Ví dụ như nếu răng cửa có hình dạng hình vuông sẽ kèm theo mặt hình vuông và cung hàm cũng có dạng hình vuông.
Các tác giả đã phân biệt ba dạng cung răng là hình vuông, hình oval và hình tam giác. Năm 1972, Brader [5] đưa ra một mẫu cung răng.Ông cho rằng cấu trúc của cung răng có 4 đặc trưng chủ yếu: hình dạng của cung răng; kích thước của cung răng; sự đối xứng hai bên; sự thay đổi của các cấu trúc xung quanh dẫn đến sự biến đổi hình thể của cung răng. Kích thước cung răng Năm 1979, Engle đã tiến hành đo hàng loạt mẫu để xác định các yếu tố của 5 hình dạng và kích thước cung răng. Ông cùng với Lestrel đã rút ra 4 kích thước chủ yếu của cung răng là: - Chiều rộng trước (chiều rộng vùng răng nanh): là khoảng cách giữa hai đỉnh của hai răng nanh.
- Chiều rộng sau (chiều rộng vùng răng hàm): là khoảng cách giữa hai đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất. - Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh): là khoảng cách từ điểm giữa hai răng cửa tới đường nối đỉnh của hai răng nanh. - Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): là khoảng cách từ điểm giữa hai răng cửa tới đường nối hai đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất. Kích thước của cung răng có sự khác biệt theo giới tính và các dạng cung răng hình vuông, hình oval, hình tam giác.
Kích thước cung răng ở nam lớn hơn nữ.Chiều rộng cung răng ở vùng răng nanh và vùng răng hàm ở cung răng hình vuông là lớn nhất rồi đến dạng cung răng hình oval hẹp nhất là cung răng dạng hình tam giác.Ngược lại chiều dài cung răng ở dạng cung răng hình tam giác là lớn nhất, rồi đến cung răng dạng oval, ngắn nhất là cung răng dạng hình vuông. Nguyên nhân gây lệch lạc răng Nguyên nhân lệch lạc răng đã được chia thành 3 nhóm sau đây: [6] [7] [8] - Yếu tố môi trường - Yếu tố di truyền - Các nguyên nhân khác 1. Ảnh hưởng của môi trường Các ảnh hưởng của chức năng ăn nhai và áp lực môi má lên sự phát triển của cấu trúc xương mặt. Trong đáp ứng sinh học, thời gian tác dụng của lực quan trọng hơn cường độ lực lên sự dịch chuyển của răng.
Một số thói quen xấu thường gặp như: mút ngón tay; đẩy lưỡi; mút môi có thể ảnh hưởng. Lực của môi, má, và lưỡi nhẹ hơn lực nhai rất nhiều, nhưng thời gian tác động lại kéo dài hơn. Thử nghiệm cho thấy ngay cả lực rất nhẹ cũng có thể làm răng di chuyển, nếu thời gian tác dụng của lực vừa đủ. Các thói quen khác: thói 6 quen chống tay vào cằm khi ngồi có thể dẫn đến cắn sâu, một số nhạc cụ thổi bằng miệng gây đè nén vào răng hoặc mặt, hàm nếu sử dụng thường xuyên và lâu dài có thể gây lệch lạc khớp cắn.
Ảnh hưởng di truyền Nguyên nhân của sai khớp cắn có thể do những được tính di truyền. Việc thừa hưởng sự bất cân xứng giữa kích thước của răng và kích thước của hàm, có thể dẫn đến hiện tượng răng mọc chen chúc hoặc thưa. Ngoài ra sự bất cân xứng giữa kích thước và hình dạng của xương hàm, cụ thể là xương hàm trên và xương hàm dưới, có thể đưa đến tương quan cắn khớp không chính xác. Nguyên nhân đặc biệt Sự phát triển răng bất thường: Thiếu răng bẩm sinh, thiếu một hay nhiều răng có thể có nguyên nhân là do bất thường trong quá trình tạo mầm răng của thai nhi.
Có thể bắt gặp bất thường này trong một số bệnh lý như hội chứng loạn sản ngoại bì, răng dị dạng và răng thừa. Ngoài ra có thể bắt gặp các cản trở trong quá trình mọc răng, răng mọc sai vị trí, thay đổi vị trí so với bình thường. Mất răng sữa sớm thường xảy ra hiện tượng răng di gần khi có khoảng trống, thường xảy ra ở răng hàm vĩnh viễn, do hướng mọc răng nghiêng về phía gần. Răng hàm lớn thứ nhất di gần khi răng hàm sữa thứ hai mất sớm có thể dẫn đến chen chúc vùng răng hàm nhỏ vĩnh viễn.
Chấn thương vùng mặt, các rối loạn phát triển răng và xương: Biến dạng xương mặt (thường là kém phát triển) do trong thời kỳ bào thai, tay hoặc chân thai nhi ở tư thế bất thường ép vào vùng mặt đang phát triển. Chấn thương xương hàm dưới do dùng forceps để lấy thai. Gãy xương hàm ở trẻ em.Rối loạn chức năng cơ và sự co rút do sẹo xơ.Chấn thương răng như chấn thương ở răng sữa có thể thay đổi dịch chuyển mầm răng vĩnh viễn bên dưới Dinh dưỡng: Thức ăn bổ dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Ngoài các chất dinh dưỡng chính như protein, cacbohydrat, lipid, chất khoáng như calci cũng là chất không thể thiếu cho sự phát triển và duy trì cấu trúc của xương.
Thiếu calci do 7 thiếu chất,dinh dưỡng kém hay do kém hấp thu của cơ thể, có thể làm bệnh nhân có khớp cắn sai do xương hàm phát triển không đầy đủ. Phụ nữ lúc mang thai thường xuyên uống rượu sẽ dẫn đến tổn thương hệ miễn dịch thai nhi, chậm phát triển trí tuệ, xương tay chân và sọ mặt phát triển không bình thường.